Uncategorized

Thiền và cảm xúc

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53489

Thiền và cảm xúc có một mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tụ tập, chuyển hoá tâm cho đến khi đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát.

Thiền, có xuất xứ từ Ấn Độ cổ đại, được xem là một phương pháp giáo dục con người một cách toàn diện, hướng con người đến chân – thiện – mỹ, rèn luyện con người phát triển thể lực và trí lực một cách hài hoà và tốt đẹp. Giá trị lý luận và thực tiễn của nó càng được khẳng định khi hiện nay trên toàn thế giới, nhất là các nước phương Tây đã và đang quan tâm, và hướng về nó một cách tích cực.

Khoa học ngày nay với những thí nghiệm tiên tiến về hai khía cạnh tâm lý và sinh lý của con người càng thấy rõ sự tương tác qua lại rất chặt chẽ giữa chúng với nhau: một nỗi buồn, vui, giận hờn, thương yêu, lo lắng hay an nhiên tự tại …  đều làm cơ thể tiết ra những hóc môn tương ứng có thể dẫn đến những nguy cơ bịnh tật, tử vong hoặc ngược lại có thể làm cho con người vượt qua những khổ đau của tâm sinh lý, của bịnh tật. Nhật Bản, một nước Châu Á nhưng là một cường quốc kinh tế thứ nhì hay thứ ba của thế giới hiện nay, đã từ lâu biết ứng dụng thiền vào mọi hoạt động của con người và ta được biết như là: trà đạo, kiếm đạo, nhu đạo, cung đạo, hoa đạo…Đạo ở đây có nghĩa là thiền và cũng có nghĩa là nghệ thuật. Vào buổi chiều, sau khi tan việc trên đường về nhà, vị thương gia ghé vào một phòng trà đạo, và chỉ sau khoảng nửa giờ với những nghi thức dùng trà là vị ấy hầu như hồi phục lại toàn bộ sinh lực đã mất trong ngày. Cũng vì “tự mặc cảm” thấy mình không xinh đẹp như một nữ diễn viên Mỹ mà hơn 80% số nữ sinh học lớp Tám ở Anh Quốc mắc bịnh trầm cảm. Tâm trí quả thật đóng một vai trò sinh tử đối với sức khoẻ của con người

Tiến sĩ Girish D. Patel là bác sĩ tâm lý học tại Mumbai (Ấn Độ), đã có trên 5.000 buổi thuyết trình ở 40 nước với những bài nói thu hút về “Sức khỏe trong tầm tay bạn” – những kỹ năng quản lý cuộc sống cho những cá nhân.

Thông qua Trung tâm Các giá trị sống (TP.HCM), ông đã có những buổi nói chuyện ở Việt Nam. Ông trao đổi về phép luyện tâm hồn như sau:

Một câu chuyện như thế này: Có một cô bé 12 tuổi bị tai nạn và mất. Người cha khóc nhiều tháng trời vẫn chưa nguôi nỗi đau. Một đêm, ông ta khóc rồi chìm vào giấc ngủ, mơ thấy rất nhiều thiên thần. Người cha mừng rỡ và vui mừng vì thấy con gái mình cũng trở thành một trong những thiên thần đó. Song niềm vui vụt tắt khi ông nhìn thấy tất cả ngọn nến trên tay các thiên thần đều sáng, chỉ riêng ngọn nến trên tay con gái ông là tắt. Ông tiếp tục buồn rầu và khóc.

Ông hỏi cô con gái: “Tại sao ngọn nến của con không sáng?”. Người con trả lời: “Cha yêu quý, những người bạn thiên thần của con rất tốt bụng, họ cứ thắp mãi cho ngọn nến của con cùng cháy. Nhưng hễ nến vừa sáng lên thì giọt nước mắt của cha nhỏ xuống lại làm nó tắt đi, không sáng được”. Người cha từ đó không khóc nữa và sống hạnh phúc.

Câu chuyện cho thấy trái tim hiểu ngôn ngữ của cảm xúc và thường bị vùi dập bởi những cảm xúc đau buồn. Còn những xung đột thường nảy ra từ cái đầu: suy đoán, tổn thương… Chỉ có tìm ra logic hợp lý mới chữa trị được cái đầu của mình. Nhưng phải biết kết hợp giữa cái đầu và trái tim để kiểm soát tâm trí. Muốn vậy phải có phương pháp luyện tâm hồn. Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu cho thấy 70% bệnh của con người là từ tâm bệnh mà ra, 30% còn lại mới do di truyền, thể xác, môi trường…

Cơ sở lý luận của Thiền là: Sự tập trung tư tưởng. Khi bộ óc được tập trung vào một đối tượng thì tạo ra một sức mạnh nội tâm như một ngọn đèn pha chiếu sáng, khiến thấy rõ mọi sự vật; trong khi đó nó làm ức chế và khiến những phần còn lại của vỏ não được nghỉ ngơi, thanh thản. Tâm trí người thường tán loạn, vọng tưởng, chạy theo những tham muốn bất thiện gây ra những hậu quả đáng tiếc về mặt đạo đức, luật pháp… Phương pháp thực hành Thiền có nhiều cách, nhưng có một cách đơn giản mà hiệu nghiệm, đó là: Quán tưởng hơi thở . Vị ấy ngồi yên lặng, lưng thẳng, mắt khép lại và để ý hơi thở vô, ra. Hơi thở này đang đi vào, vị ấy rõ biết như vậy; hơi thở này đang đi ra, vị ấy rõ biết như vậy. Trong khi đang theo dõi hơi thở như vậy, nếu có những hình ảnh, kỷ niệm, suy nghĩ, cảm xúc dù chúng có đẹp hay xấu, vui hay buồn thì vị ấy đừng để ý hay bận tâm, phê phán. Sau một thời gian lâu hay mau, tuỳ theo sự nỗ lực của từng người mà sẽ có hiệu quả sớm hay muộn.

Thước đo kết quả của sự luyện tâm là vị ấy cảm thấy sức khoẻ thân tâm của mình ngày càng được tốt hơn: ngủ ngon giấc không chiêm bao mộng mị, bớt lo lắng phiền não, vui vẻ, tập trung vào công việc đang làm một cách tự nhiên. Một sự luyện tâm như vậy sẽ dần tạo ra một phản xạ có điều kiện mới thay thế cho những thói quen xấu cũ.

Đức Phật dạy, cảm xúc là một phần hoạt động của quá trình duyên sinh của tâm. Do sáu căn  tiếp xúc với sáu trần  mà có sáu thức, sáu thức duyên sinh sáu xúc, xúc duyên sinh thọ , thọ duyên sinh tưởng, tưởng duyên sinh hý luận và vọng tưởng. Cảm xúc hay cảm thọ do các yếu tố cấu thành nên nên chúng không có tính bền vững và chỉ hiện hữu tạm thời.

Thiền có hai phần: Chỉ và Quán. Ta có thể áp dụng xen kẻ Chỉ và Quán trong khi ngồi thiền. Nếu chỉ áp dụng Chỉ thôi thì tâm dễ bị hôn trầm và nếu chỉ áp dụng Quán thôi thì tâm dễ bị tán loạn. Đức Phật dạy, một người nội trợ khéo tay thì khi xào nấu một món ăn người này thường dùng thìa trở qua trở lại món ăn nếu không thì món ăn sẽ bị cháy khét.

– Chỉ là an trú hay cột tâm hay tâm rõ biết hơi thở này vô, hơi thở này ra. Có hai cách an trú tâm vào hơi thở: a) Tâm rõ biết hơi thở trên một đường thẳng từ mũi đến bụng dưới , hoặc b) Tâm rõ biết một điểm ở giữa hai ống mũi mà hơi thở đi qua. Thời gian đầu, người ta thường đếm hơi thở từ 01 đến 10 rồi tiếp tục đếm lại từ 01 đến 10. Việc đếm hơi thở này giúp hành giả dễ tập trung tư tưởng và tránh được hai chướng ngại là hôn trầm và tán loạn .Trong khi an trú tâm như vậy, nếu có bất kỳ hiện tượng nào như hình bóng, cảm xúc, kỷ niệm, lo âu… hiện ra trong đầu thì cứ để chúng xuất hiện tự nhiên, không đè nén chúng, không có khen, chê hay phê phán chúng và hãy quay về an trú và đếm hơi thở. Sự huấn luyện tâm hay thiền chỉ này sẽ đưa đến định lực hay tâm giải thoát.

– Quán là phân tích, xem xét và thâm nhập vào hay sống với ý nghĩa của 16 đề tài thiền quán, 4 đề tài liên hệ đến thân , 4 đề tài liên hệ đến cảm thọ , 4 đề tài liên hệ đến tâm  và 4 đề tài liên hệ đến pháp . Phép thiền quán như vậy sẽ giúp hành giả thấy được bản chất vô thường, sinh diệt, mỏng manh của mọi thứ như trong tay cầm một cục nước đá đang tan chảy. Do vậy tâm trí rời bỏ, không tham đắm hay bám víu và thành tựu tuệ giải thoát.

Thật sự, Chỉ và Quán luôn được sử dụng chung trong khi hành thiền và đưa hành giả chứng đạt đích cuối cùng là giác ngộ và giải thoát khỏi mọi phiền não, khổ đau.

Thiền là một pháp môn đặc biệt mà đức Phật gọi là “Eko maggo” (độc lộ dẫn đến giải thoát) và Pháp của ngài giảng có tính thiết thực hiện tại, đến để thấy và chứng nghiệm “Ehi passiko”, không phải đến để tin một cách mù quáng như đoàn người mù dắt nhau đi, người đầu tiên không thấy và người đi cuối cùng cũng chẳng thấy! Thiền hẳn sẽ mang lại niềm hạnh phúc vô biên ngay hiện tại cho tất cả mọi người.

Title:

Thiền và cảm xúc
Authors: Thích, Tâm Đức
Keywords: Tôn giáo

Thiền

Issue Date: 2010
Publisher: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
Description: Tạp chí nghiên cứu Phật học – Số 5/2010 ; 2 tr. ; TNS08308
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53489
Appears in Collections: Nghiên cứu Phật học và Phật hoàng Trần Nhân Tông (LIC)
Advertisements
Uncategorized

High bandwidth all-optical 3×3 switch based on multimode interference structures

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/28156

A high bandwidth all-optical 3×3 switch based on general interference multimode interference (GI-MMI) structure is proposed in this study.

Two 3×3 multimode interference couplers are cascaded to realize an alloptical switch operating at both wavelengths of 1550 nm and 1310 nm.

Two nonlinear directional couplers at two outer-arms of the structure are used as all-optical phase shifters to achieve all switching states and to control the switching states.

Analytical expressions for switching operation using the transfer matrix method are presented.

The beam propagation method (BPM) is used to design and optimize the whole structure.

The optimal design of the all-optical phase shifters and 3×3 MMI couplers are carried out to reduce the switching power and loss.

Title: High bandwidth all-optical 3×3 switch based on multimode interference structures
Authors: Le, Duy Tien

Cao, Dung Truong

Le, Trung Thanh

Keywords: All-optical switches

Wavelength selective switches

MMI coupler

Nonlinear directional coupler

Nonlinear phase shifters

Issue Date: 2017
Publisher: ELSEVIER SCIENCE BV, PO BOX 211, 1000 AE AMSTERDAM, NETHERLANDS
Citation: ISIKNOWLEDGE
Abstract: A high bandwidth all-optical 3×3 switch based on general interference multimode interference (GI-MMI) structure is proposed in this study. Two 3×3 multimode interference couplers are cascaded to realize an alloptical switch operating at both wavelengths of 1550 nm and 1310 nm. Two nonlinear directional couplers at two outer-arms of the structure are used as all-optical phase shifters to achieve all switching states and to control the switching states. Analytical expressions for switching operation using the transfer matrix method are presented. The beam propagation method (BPM) is used to design and optimize the whole structure. The optimal design of the all-optical phase shifters and 3×3 MMI couplers are carried out to reduce the switching power and loss.
Description: TNS06973 ; OPTICS COMMUNICATIONS Volume: 387 Pages: 148-152 Published: MAR 15 2017
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/28156
ISSN: 0030-4018

1873-0310

Appears in Collections: Bài báo của ĐHQGHN trong Web of Science
Uncategorized

Quan hệ giữa đặc điểm địa mạo và trượt lở đất tại tỉnh Lào Cai

http://repository.vnu.edu.vn/handle/11126/4646

Hình thái và nguồn gốc địa hình có mối liên hệmật thiết với đặc tính đất đá, hoạt động kiến tạo và các quá trình nội sinh, ngoại sinh nhưtrượt lở đất, lũbùn đá.

Bài báo này trình bày việc phân tích mối quan hệgiữa các đặc điểm địa mạo và hiện tượng trượt lở đất tại tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm hình thái được phân tích bao gồm tính phân bậc địa hình, độdốc, độphân cắt ngang, độphân cắt sâu và hướng sườn.

Kết quảphân tích bằng GIS cho thấy độdốc có mối tương quan tuyến tính, trong khi các yếu tốkhác có tương quan phi tuyến với hiện tượng trượt lở đất.

Đối với nguồn gốc địa hình, trong số32 dạng địa hình thuộc 4 nhóm, cường độtrượt lở đất có xu hướng đạt mức độ cao nhất đối với bềmặt pedimen thung lũng, sườn bóc mòn tổng hợp dốc trên 30º và sườn xâm thực dọc khe suối.

Title: Quan hệ giữa đặc điểm địa mạo và trượt lở đất tại tỉnh Lào Cai
Authors: Trần, Thanh Hà
Keywords: Trượt lở đất;Đặc điểm địa mạo;Lào Cai
Issue Date: 2013
Publisher: Đại học Quốc gia Hà Nội
Citation: tr. 35‐44
Abstract: Hình thái và nguồn gốc địa hình có mối liên hệmật thiết với đặc tính đất đá, hoạt động kiến tạo và các quá trình nội sinh, ngoại sinh nhưtrượt lở đất, lũbùn đá. Bài báo này trình bày việc phân tích mối quan hệgiữa các đặc điểm địa mạo và hiện tượng trượt lở đất tại tỉnh Lào Cai. Đặc điểm hình thái được phân tích bao gồm tính phân bậc địa hình, độdốc, độphân cắt ngang, độphân cắt sâu và hướng sườn. Kết quảphân tích bằng GIS cho thấy độdốc có mối tương quan tuyến tính, trong khi các yếu tốkhác có tương quan phi tuyến với hiện tượng trượt lở đất. Đối với nguồn gốc địa hình, trong số32 dạng địa hình thuộc 4 nhóm, cường độtrượt lở đất có xu hướng đạt mức độ cao nhất đối với bềmặt pedimen thung lũng, sườn bóc mòn tổng hợp dốc trên 30º và sườn xâm thực dọc khe suối.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/11126/4646
Appears in Collections: Chuyên san Khoa học trái đất và Môi trường
Uncategorized

Direct reprogramming of fibroblasts into endothelial progenitor cells by defined factors

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/29263

Quantile treatment effects are estimated to study the impacts of household credit access on health spending by poor households in one District of Ho Chi Minh City, Vietnam.

There are significant positive effects of credit on the health budget shares of households with low health care spending. In contrast, when an average treatment effect is estimated, there is no discernible impact of credit access on health spending.

Hence, typical approaches to studying heterogeneous credit impacts that only consider between-group differences and not differences over the distribution of outcomes may miss some heterogeneity of interest to policymakers.

Introduction:

Endothelial progenitor cells (EPCs) are important progenitor cells in vasculogenesis as well as in tissue engineering.

However, few EPCs can be isolated from bone marrow, peripheral blood and umbilical cord blood.

Moreover, their in vitro proliferation potential is also limited. Therefore, this study aimed to produce EPCs from direct reprogramming of fibroblasts by transduction with certain specific factors.

Methods:

Human fibroblasts were collected from human skin by published protocols.

The cells were transduced with 2 viral vectors containing 5 factors, including Oct3/4, Sox2, Klf4, c-Myc (plasmid 1), and VEGFR2 (plasmid 2). Transduced cells were treated with endothelial cell medium for 21 days.

The cells were analyzed for expression of Oct3/4, Sox3, Klf4, c-Myc and VEGFR2 at day 5, and for EPC phenotype at day 21

Results:

The results showed that after 5 days of transduction, fibroblasts acquired partial pluripotency.

After 21 days of transduction and culture in endothelial cell medium, the cells exhibited endothelial markers (e.g. CD31 and VEGFR2) and formed blood vessel-like capillaries.

Conclusion: Our findings suggest another strategy for direct reprogramming of fibroblasts into EPCs.

Title:

Direct reprogramming of fibroblasts into endothelial progenitor cells by defined factors
Authors: Truong, MTH

Huynh, OT

Pham, LH

Keywords: Direct reprogramming

Fibroblasts

Endothelial progenitor cells

Issue Date: 2016
Publisher: BIOMEDPRESS, BIOMEDPRESS, HO CHI MINH, 00000, VIETNAM
Citation: ISIKNOWLEDGE
Abstract: Introduction: Endothelial progenitor cells (EPCs) are important progenitor cells in vasculogenesis as well as in tissue engineering. However, few EPCs can be isolated from bone marrow, peripheral blood and umbilical cord blood. Moreover, their in vitro proliferation potential is also limited. Therefore, this study aimed to produce EPCs from direct reprogramming of fibroblasts by transduction with certain specific factors. Methods: Human fibroblasts were collected from human skin by published protocols. The cells were transduced with 2 viral vectors containing 5 factors, including Oct3/4, Sox2, Klf4, c-Myc (plasmid 1), and VEGFR2 (plasmid 2). Transduced cells were treated with endothelial cell medium for 21 days. The cells were analyzed for expression of Oct3/4, Sox3, Klf4, c-Myc and VEGFR2 at day 5, and for EPC phenotype at day 21. Results: The results showed that after 5 days of transduction, fibroblasts acquired partial pluripotency. After 21 days of transduction and culture in endothelial cell medium, the cells exhibited endothelial markers (e.g. CD31 and VEGFR2) and formed blood vessel-like capillaries. Conclusion: Our findings suggest another strategy for direct reprogramming of fibroblasts into EPCs.
Description: BIOMEDICAL RESEARCH AND THERAPY Volume: 3 Issue: 8 Pages: 780-789 ; TNS06514
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/29263
Appears in Collections: Bài báo của ĐHQGHN trong Web of Science
Uncategorized

Hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/973

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và hôn nhân gia đình nói riêng được quy định khá cụ thể, chi tiết trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 


Hòa giải giúp các bên tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, chi phí trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. 

Tuy nhiên thực tiễn áp dụng các quy định về hòa giải trong BLTTDS cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung để giúp cho quá trình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình nói riêng cũng như các vụ việc dân sự nói chung đạt hiệu quả cao hơn.

Title: Hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Authors: Trần, Công Thịnh
Keywords: Hòa giải;hôn nhân gia đình;Bộ luật Tố tụng dân sự
Issue Date: 2015
Publisher: ĐHQGHN
Citation: tr. 23-39
Series/Report no.: Vol. 31, No. 1;
Abstract: Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và hôn nhân gia đình nói riêng được quy định khá cụ thể, chi tiết trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hòa giải giúp các bên tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, chi phí trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng các quy định về hòa giải trong BLTTDS cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung để giúp cho quá trình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình nói riêng cũng như các vụ việc dân sự nói chung đạt hiệu quả cao hơn.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/973
ISSN: 0866-8612
Appears in Collections: Chuyên san Luật học
Uncategorized

Quy mô chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, giai đoạn 2008-2014

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/14543

Giai đoạn nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động 2008-2014, rất cần thiết có nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực công.

Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động khu vực công, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.

Điều này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn đối với các nước đang phát triển trong phạm vi nghiên cứu nói chung và hơn hết có thể áp dụng đối với Việt Nam nói riêng trong việc giải quyết tình trạng chi tiêu công không hiệu quả và nợ công như hiện nay.

Title: Quy mô chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, giai đoạn 2008-2014
Authors: Nguyen, Thi Giang

Pham, Thi Huong Lien

Keywords: Chi tiêu công;Tăng trưởng kinh tế
Issue Date: 2016
Publisher: ĐHKT
Abstract: Giai đoạn nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động 2008-2014, rất cần thiết có nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực công. Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động khu vực công, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Điều này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn đối với các nước đang phát triển trong phạm vi nghiên cứu nói chung và hơn hết có thể áp dụng đối với Việt Nam nói tiêng trong việc giải quyết tình trạng chi tiêu công không hiệu quả và nợ công như hiện nay.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/14543
Appears in Collections: Bài đăng tạp chí (LIC)
Uncategorized

Development and In Vitro Evaluation of Liposomes Using Soy Lecithin to Encapsulate Paclitaxel

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/28833

The formulation of a potential delivery system based on liposomes (Lips) formulated from soy lecithin (SL) for paclitaxel (PTX) was achieved (PTX-Lips).

At first, PTX-Lips were prepared by thin film method using SL and cholesterol and then were characterized for their physiochemical properties (particle size, polydispersity index, zeta potential, and morphology).

The results indicated that PTX-Lips were spherical in shape with a dynamic light scattering (DLS) particle size of 131 +/- 30.5 nm.

Besides, PTX was efficiently encapsulated in Lips, 94.5 +/- 3.2% for drug loading efficiency, and slowly released up to 96 h, compared with free PTX.

More importantly, cell proliferation kit I (MTT) assay data showed that Lips were biocompatible nanocarriers, and in addition the incorporation of PTX into Lips has been proven successful in reducing the toxicity of PTX.

As a result, development of Lips using SL may offer a stable delivery system and promising properties for loading and sustained release of PTX in cancer therapy.

Title:

Development and In Vitro Evaluation of Liposomes Using Soy Lecithin to Encapsulate Paclitaxel
Authors: Nguyen Thi Lan

Nguyen Thi Hiep

Nguyen Dai Hai

Keywords: RESISTANT LUNG-CANCER

DRUG-DELIVERY

NANOPARTICLES

DOXORUBICIN

EFFICACY

THERAPY

RELEASE

GROWTH

PEG

Issue Date: 2017
Publisher: HINDAWI LTD, ADAM HOUSE, 3RD FLR, 1 FITZROY SQ, LONDON, WIT 5HE, ENGLAND
Citation: ISIKNOWLEDGE
Abstract: The formulation of a potential delivery system based on liposomes (Lips) formulated from soy lecithin (SL) for paclitaxel (PTX) was achieved (PTX-Lips). At first, PTX-Lips were prepared by thin film method using SL and cholesterol and then were characterized for their physiochemical properties (particle size, polydispersity index, zeta potential, and morphology). The results indicated that PTX-Lips were spherical in shape with a dynamic light scattering (DLS) particle size of 131 +/- 30.5 nm. Besides, PTX was efficiently encapsulated in Lips, 94.5 +/- 3.2% for drug loading efficiency, and slowly released up to 96 h, compared with free PTX. More importantly, cell proliferation kit I (MTT) assay data showed that Lips were biocompatible nanocarriers, and in addition the incorporation of PTX into Lips has been proven successful in reducing the toxicity of PTX. As a result, development of Lips using SL may offer a stable delivery system and promising properties for loading and sustained release of PTX in cancer therapy.
Description: TNS07016 ; INTERNATIONAL JOURNAL OF BIOMATERIALS Article Number: 8234712 Published: 2017
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/28833
ISSN: 1687-8787

1687-8795

Appears in Collections: Bài báo của ĐHQGHN trong Web of Science