Uncategorized

Tìm giá trị của sinh mạng

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53503

Có rất nhiều người đến tâm sự với tôi, nói cuộc sống của họ chẳng có ý nghĩa gì cả, sống như thừa như thải! Không những chìm ngập trong mớ tư tưởng hỗn loạn, không nhận ra sự tự tại, hạnh phúc trong cuộc sống; càng nghiêm trọng hơn, trong tâm luôn thấy u buồn, bất an, không có lối thoát, chẳng khác nào người mất hết cảm giác, thây chết biết đi, không nhận ra giá trị chân thật của mạng sống

Muốn tìm ra giá trị chân thật của mạng sống, đòi hỏi chúng ta phải xem thử mình sử dụng sinh mạng như thế nào; chỉ cần biết sử dụng sinh mạng, sẽ nhận ra ngay giá trị sống. Song có điều, giá trị sống có mặt chính và mặt phụ.

Trước khi xây dựng giá trị sinh mạng, và phát huy ý nghĩa sinh mạng, đầu tiên cần phải hiểu rõ yếu tố cấu thành giá trị sinh mạng. Có 3 hiện tượng cơ bản: Thứ nhất, hiện tượng tư tưởng; thứ hai, hiện tượng ngôn ngữ; thứ ba, hiện tượng hoạt động của thân thể. Nhà Phật gọi ba “nhà” này là “tam nghiệp”. Hành vi hoạt động của thân thể, gọi là “thân”; hành vi của lời nói, gọi là “miệng”; hành vi của tư tưởng, gọi là “ý”. Muốn biết giá trị của sinh mạng là chính hay phụ, phải xem chúng ta vận dụng ba thành tố này ra sao, sử dụng “tam nghiệp” này như thế nào.

Cái gọi là “mặt phụ” của giá trị sinh mạng, ngay cả xét trên phương diện phẩm đức, nhân cách cũng chưa đủ. Nếu quá chú trọng về nhu cầu vật chất và dục vọng của sự sinh tồn, như ăn uống, trai gái… – bởi đây là bản tính của động vật, biểu hiện thú tính – một khi dục vọng về những thứ này tương đối mạnh, nhất định tinh thần sẽ tỉ lệ nghịch.

Còn giá trị sinh mạng của “mặt chính” là sao? Là phát huy đầy đủ hành vi cần phải có của một con người, bao gồm: Luân lí đạo đức, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau trong vấn đề giao tiếp hằng ngày, lí tính và tư tưởng. Đặc biệt lí tính và tư tưởng, sở dĩ con người được xem là quí, bởi vì con người có lí tính, biết tư duy và có tư tưởng.

Con hổ ăn thịt người, nó chỉ nghĩ làm sao để ăn, lúc nào nơi nào cũng tìm cách để ăn, không cần quan tâm đến những thứ khác, không cần suy nghĩ con người có thể ăn được hay không? Con gà có thể ăn được hay không? Nếu con người chúng ta không có tư duy, tư tưởng, thì việc làm và lời nói chẳng khác nào loài động vật.

Trong tất cả các loài động vật, chỉ có con người mới có tư tưởng, thế tại sao không vận dụng ưu điểm này, làm cho cuộc sống của mình có ý nghĩa? Sống đúng với danh nghĩa là một con người, có trái tim, có khối óc, biết thương yêu, biết tha thứ, biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết mỉm cười, ngay tức khắc mặt chính giá trị sinh mạng liền xuất hiện.

Nên lặng tâm quán xét lại mình: “Tư tưởng trong đầu mình, là đạo đức hay không phải đạo đức? Là hợp lí hay bất hợp lí? Có lợi ích hay không có lợi ích? Là thiết thực hay giả dối?” Chỉ cần thường xuyên quay lại với chính mình, tự nhiên phát hiện: Bình thường những ý niệm sinh khởi trong đầu, vô dụng nhiều hơn hữu dụng, phi đạo đức nhiều hơn đạo đức, mặt phụ nhiều hơn mặt chính.

Nhưng, lại có một số người biết sử dụng tâm mình một cách “nghệ thuật”, kết quả biến thành mưu đồ. Ví dụ: Rõ ràng biết tâm mình vô cùng sân hận, có ý định chưởi mắng người, oán giận người, nhưng miệng không thốt ra, cũng không biểu hiện ngay cả trên nét mặt và việc làm; hoặc định nói thứ gì đó, nhưng trong đầu lại nghĩ, vì lợi ích và sự an thân của mình, không nên nói những điều chống trái, nhằm để mọi người thấy rằng mình là người tốt, là bậc quân tử, đáng tin cậy. Kì thực, trong lòng y đang nghĩ gì, chẳng ai biết được. Người xưa nói: “Dò sông dò biển dễ dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người”, thật chính xác!

Nếu tư tưởng được sử dụng kiểu này, ấy là nguy cơ lớn. Không phải chúng ta thể hiện bề ngoài là người tốt, bậc quân tử là đủ, điều quan trọng là lúc nào cũng quán xét nội tâm, làm mới lại nội tâm của mình, như thế mới thật sự phát hiện đầy đủ ý nghĩa của sinh mạng, phát huy giá trị của cuộc sống.

Title: 

Tìm giá trị của sinh mạng
Authors: Thánh Nghiêm

Mạt nhân Đạo Quang

Keywords: Phật giáo

Tôn giáo

Triết lý Phật giáo

Issue Date: 2010
Publisher: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
Description: Tạp chí nghiên cứu Phật học – Số 6/2010 ; 2 tr. ; TNS08322
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53503
Appears in Collections: Nghiên cứu Phật học và Phật hoàng Trần Nhân Tông (LIC)
Advertisements
Uncategorized

Application of the taraxerane-oleanane rearrangement to the synthesis of seco-oleanane triterpenoids from taraxerone

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/32538

Synthetic oleananes and seco-oleananes form a group of promising anti-inflammatory and cancer chemopreventive agents with an excellent safety profile.

These compounds are usually prepared by semi-synthesis from natural oleanane triterpenoids.

Since a taraxer-14-ene was reported to be rearranged into an olean-12-ene under mild reaction conditions, a rapid synthesis of seco-oleananes from taraxerone, which is a readily available starting material, was explored by us.

Treatment of taraxerone with m-chloroperoxybenzoic acid gave 14,15-epoxy lactones, which underwent the taraxerane-oleanane rearrangement leading to new seco-oleanane triterpenoids.

Title:

Application of the taraxerane-oleanane rearrangement to the synthesis of seco-oleanane triterpenoids from taraxerone
Authors: Phan, Minh Giang

Vu, Minh Trang

Phan, Tong Son

Keywords: Baeyer-Villiger oxidation

taraxerane-oleanane rearrangement

taraxerone

Issue Date: 2015
Publisher: TAYLOR & FRANCIS LTD, 4 PARK SQUARE, MILTON PARK, ABINGDON OX14 4RN, OXON, ENGLAND
Citation: ISIKNOWLEDGE
Abstract: Synthetic oleananes and seco-oleananes form a group of promising anti-inflammatory and cancer chemopreventive agents with an excellent safety profile. These compounds are usually prepared by semi-synthesis from natural oleanane triterpenoids. Since a taraxer-14-ene was reported to be rearranged into an olean-12-ene under mild reaction conditions, a rapid synthesis of seco-oleananes from taraxerone, which is a readily available starting material, was explored by us. Treatment of taraxerone with m-chloroperoxybenzoic acid gave 14,15-epoxy lactones, which underwent the taraxerane-oleanane rearrangement leading to new seco-oleanane triterpenoids.
Description: NATURAL PRODUCT RESEARCH Volume: 29 Issue: 1 Pages: 64-69 Published: JAN 2 2015 ; TNS05789
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/32538
ISSN: 1478-6419
Appears in Collections: Bài báo của ĐHQGHN trong Web of Science
Uncategorized

Chi tiết ba câu chuyện động trời nhất lịch sử nhân loại

Một số sự thật khó tin nhất lịch sử khiến nhiều người bất ngờ và cảm thấy thú vị.

Ngôi nhà của Wilmer McLean

Ngôi nhà này là nơi Nội chiến Mỹ bắt đầu và cũng là nơi kết thúc cuộc chiến.

Ngôi nhà này là nơi Nội chiến Mỹ bắt đầu và cũng là nơi kết thúc cuộc chiến.

Ngôi nhà của Wilmer McLean tại Appomattox, Virginia, Mỹ là nơi Nội chiến Mỹ bắt đầu và cũng là nơi kết thúc cuộc chiến. Đây cũng là nơi diễn ra một sự thật khó tin nhất lịch sử. Cụ thể, trận chiến đầu tiên trong Nội chiến Mỹ là trận Bull Run diễn ra tại trang trại của Wilmer McLean. Trước tình hình chiến sự ác liệt, gia đình của McLean chuyển đến Appomattox Court House cách đó hơn 100 dặm. Đến ngày 9/4/1865, phe miền Nam đầu hàng tại trận chiến Appomattox Court House. Hai bên trong Nội chiến Mỹ đã tiến hành thương lượng ngay tại ngôi nhà của McLean.

Tycho Brahe

Tycho Brahe là nhà thiên văn nổi tiếng với đời sống khá lập dị và qua đời một cách kỳ lạ.

Tycho Brahe là nhà thiên văn nổi tiếng với đời sống khá lập dị và qua đời một cách kỳ lạ.

Tycho Brahe là nhà quý tộc người Đan Mạch. Ông cũng là nhà thiên văn nổi tiếng với đời sống khá lập dị và qua đời một cách kỳ lạ. Câu chuyện ly kỳ về cuộc đời của nhà quý tộc này khiến nhiều người bất ngờ. Nhà thiên văn này mất mũi trong một trận đấu kiếm ở trường đại học và phải đeo một chiếc mũi giả làm bằng kim loại. Ông Brahe thường tổ chức những bữa tiệc tại lâu đài và mời bạn bè tới dự tiệc. Chính buổi tiệc tùng đã vô tình dẫn đến cái chết của nhà quý tộc này. Cụ thể, trong một buổi tiệc ở Prague, Brahe khăng khăng đòi ở lại tại bàn trong khi cần đi tiểu bởi vì rời khỏi bàn đồng nghĩa với kém cỏi và thua cuộc trong một trò chơi. Chính điều này khiến nhà thiên văn người Đan Mạch bị nhiễm trùng thận, bàng quang của ông bị vỡ sau đó 11 ngày. Ông qua đời năm 1601. Cho đến nay, câu chuyện lạ như tiểu thuyết về cái chết của ông Brahe khiến không ít người kinh ngạc.

Chiến dịch Mincemeat

Trong ảnh là quân Đồng minh đổ bộ lên đảo Sicily (Ý) vào tháng 7/1943.

Trong ảnh là quân Đồng minh đổ bộ lên đảo Sicily (Ý) vào tháng 7/1943.

Trong Chiến tranh thế giới 2, quân đội Anh đã có chiêu lạ để đánh lạc hướng kẻ thù và đạt được thành công. Anh đã thực hiện kế hoạch gây nhiễu thông tin có tên Chiến dịch Mincemeat nhằm khiến phe phát xít lầm tưởng rằng quân Đồng minh sẽ tiến đánh, chiếm Hy Lạp thay vì đảo Sicily – nơi họ thực sự đổ bộ vào tháng 7/1943. Để thực hiện kế hoạch này, quân đội Anh đã sử dụng thi thể một người đàn ông vô gia cư và hóa trang xác chết đó thành một thiếu tá thủy quân lục chiến. Họ nhét vào túi người đàn ông này một bộ tài liệu giả về “kế hoạch đổ quân vào Hy Lạp” trước khi thả xuống vùng biển ngoài khơi Tây Ban Nha. Sau đó, chính phủ London liên hệ với chính quyền Madrid nhờ tìm kiếm và thu hồi giúp thi thể “một quân nhân Anh mang tài liệu quan trọng”.

Nhận được thông tin quan trọng trên, Tây Ban Nha dưới thời nhà độc tài Franco đã chuyển số tài liệu “cơ mật” trên cho Đức quốc xã. Nhận được tin tức giả mạo mà không hay biết, trùm phát xít Hitler ra lệnh điều quân khỏi Sicily sang bảo vệ Hy Lạp. Chính vì vậy, phát xít Đức đã trở tay không kịp khi quân Đồng minh đổ bộ chiếm đảo này trong Chiến dịch Husky.

Uncategorized

Sự dung hợp của Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/33589

Giới thiệu luận văn “Sự dung hợp của Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt”

Tác giả: Phạm Ngọc Anh

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/33589

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.

Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Cử hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” tại 21 tỉnh thành của Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ đón bằng UNESCO ghi danh “Cử hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã diễn ra vào ngày 2/4/2017.

Luận văn bao gồm các nội dung chính:

– Trình bày khái quát về Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu

– Nghiên cứu sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu, sự ảnh hưởng qua lại giữa chúng.

– Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực trong sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu.

– Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu có nội dung liên quan đến Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu, cũng như có thể dùng làm tài liệu tham khảo để dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng và Trường chính trị tỉnh.

Uncategorized

Bát Tràng – Nơi lưu giữ hồn đất Việt

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/22016

Nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của đất nước. Qua các thời kỳ, người làm nghề hun đúc và tập hợp kinh nghiệm để làm nên bí quyết gia truyền lưu lại cho các thế hệ sau. Thừa kế những tinh hoa của các thế hệ đi trước, hậu nhân sẽ tiếp tục bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị trân quý của nghề.

Đồ gốm đã xuất hiện trên lãnh thổ nước ta từ hơn 10 ngàn năm về trước. Người ta tìm thấy các mảnh gốm đơn giản tại những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long. Nhưng nếu nói về sự lưu truyền không gián đoạn, thì gốm cổ truyền của người Việt xuất hiện đầu tiên trong những di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.

Ngày nay rất nhiều làng nghề gốm vẫn còn tồn tại, tiêu biểu  là làng gốm cổ truyền Bát Tràng Hà Nội, gốm Thổ Hà Phù Lãng, Gốm Hương Canh Vĩnh Phúc, gốm Quế Quyển Hà Nam, gốm lò Chum Thanh Hóa, v.v. Mỗi vùng quê lại lưu giữ những kỹ nghệ và bí quyết truyền thống riêng biệt. Trong kỳ này, chúng ta sẽ tìm hiểu về gốm Bát Tràng.

Nói tới gốm Bát Tràng là nhắc tới một địa chỉ thân quen của khách du lịch trong và ngoài nước khi đến với mảnh đất Thăng Long, để tìm hiểu những vẻ đẹp tiềm ẩn của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Gốm Bát Tràng luôn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, mang theo hồn dân tộc qua sự phong phú về số lượng và chủng loại. Nhiều sản phẩm mang những nét đẹp riêng và đặc sắc không giống bất cứ nơi nào.

 

 

Mời các bạn tìm hiểu luận văn cùng chủ đề “Bát Tràng – Nơi lưu giữ hồn đất Việt” của tác giả Nguyễn Khánh Ngọc tại đường link http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/22016

Uncategorized

Biểu tượng “Vạn” của Phật giáo

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19071

  1. Nguồn gốc chữ Vạn

Hình chữ Vạn vốn là biểu tượng biểu thị tính chất tốt lành của dân tộc Ấn Độ cổ đại nói riêng và của cả chủng người Aryan nói chung. Vì vậy, không chỉ riêng người Ấn Độ mà cả các dân tộc Ba Tư, Hy Lạp cũng xem nó là biểu tượng của mình. Đó là một hình vẽ có từ thời xa xưa, thời tồn tại tín ngưỡng bái vật giáo. Trong tư tưởng của người phương Đông, chữ Vạn tượng trưng cho mặt trời và tia lửa, biểu ý tập trung rực rỡ sự kiết tường.

Chính bởi ý nghĩa phổ biến của chữ Vạn là biểu tượng của sự kiết tường, thanh tịnh và viên mãn, nên nhiều tôn giáo cổ đại của Ấn Độ như là Bà-la-môn giáo, Kỳ-na giáo… cũng đều sử dụng biểu tượng này. Có nghĩa là trước khi Phật giáo ra đời thì đã có sự hiện hữu của biểu tượng này.

Những tín đồ Bà-la-môn giáo xem biểu tượng chữ Vạn là chòm lông xoáy ở trước ngực của thần Vishnu và Krishna; là một trong những tướng tốt của các vị thần. Theo công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Quang Đảo Đốc ở Trường Đại học Quốc Sĩ Quán Nhật Bản thì chữ Vạn được người Bà-la- môn giáo ghi chép từ thế kỷ thứ VIII trước Tây lịch, cho là thụy tướng lông xoắn trước ngực thần Vishnu. Đến thế kỷ thứ III trước Tây lịch thì kinh Phật mới nhắc đến.

Như ta đã biết, dân tộc Ấn Độ có truyền thống văn hóa thờ cúng con bò, vì thế mà họ cho rằng biểu tượng Vạn cũng là tướng lông xoắn ốc trên đầu bò. Và, biểu tượng này cũng được xem là một trong sáu tướng đại nhân về sau mới trở thành một trong ba mươi hai tướng đại nhân

Một nhà sưu tầm cổ vật là James Churchward cho rằng, chữ Vạn không là chỉ biểu tượng của riêng Phật giáo hay Ấn giáo mà là biểu tượng chung của toàn thể nhân loại trên khắp thế giới. Nó là những ký hiệu tượng hình được ghi trên các linh bài bằng đất thô có độ tuổi hàng vạn năm, tìm được ở Ấn Độ, được cất giấu trong các ngôi đền xưa.

Ông cho rằng chữ Vạn chỉ là biến thể của chữ thập (+) tượng trưng cho“Tứ đại Nguyên động lực” (nước, gió, lửa, sấm sét). Chữ thập và chữ Vạn cũng như thạch trụ là những biểu tượng có tính chất tôn giáo, được tôn thờ từ lục địa Mu (Continent of Mu), được truyền sang bờ Tây Thái Bình Dương, Népal, Ấn Độ, sang Ba Tư, tới Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp…

Người ở lục địa Mu thờ Mặt trời nên tất cả các dân tộc nào trên thế giới thờ Mặt trời ít nhiều chịu ảnh hưởng của tôn giáo nguyên thủy của lục địa này. Về hướng xoay của chữ Vạn xảy ra từ lúc nào, ông cũng không hiểu rõ, chỉ biết trên hoa văn một lọ chum đựng hài cốt tìm được ở Ý có niên đại vào thời đồ đồng đã thấy cả hai chữ Vạn ngược chiều nhau2.

Nói chung, các luận thuyết về chữ Vạn đều chưa thống nhất với nhau về nguồn gốc của nó, là của dân tộc nào hay của tôn giáo nào. Do vậy, nguồn gốc đích thực của chữ Vạn vẫn còn là câu hỏi đặt ra cho những nhà nghiên cứu khoa học nào quan tâm.

  1. Ý nghĩa của biểu tượng Vạn

Chữ Vạn nguyên tiếng Phạn là Swastika được phiên âm là “Thất-lợi-bạt-tha” và được dịch nghĩa là “cát tường hải vân” (vầng mây lành trên biển) hay “cát tường hỷ triền”(vòng xoay tốt lành). Theo quan niệm của người Ấn Độ, phàm những ai có chân mạng trở thành những bậc Chuyển luân Thánh vương, Phạm thiên vương và các bậc Hiền nhân có thể xoay chuyển càn khôn mang lại hạnh phúc cho thiên hạ đều có 32 tướng tốt ngay khi còn tấm bé, không phải đợi đến khi làm được đế vương mới có 32 tướng hảo. Có lẽ xuất phát từ quan niệm này mà người Ấn Độ có tục xem tướng cho trẻ vào những ngày đầu đời, để đoán định vận mệnh tương lai cho bé.

Đức Phật là Thánh vương trong các Pháp, đương nhiên cũng có 32 tướng tốt. Kinh Trường A-hàm, quyển thứ nhất, viết rằng chữ Vạn là tướng đại nhân, nằm trước ngực của Đức Phật. Còn trong Tát Giá Ni Kiền Tử Sở Thuyết Kinh, quyển 6, nói đó là tướng tốt thứ tám mươi của Phật Thích-ca. Kinh Thập Địa Luận, quyển 12, nói Bồ-tát Thích- ca lúc chưa thành Phật, trước ngực đã có tướng chữ Vạn công đức trang nghiêm kim cương. Phương Quảng Đại Trang Nghiêm kinh, quyển 3, nói rằng tóc của Đức Phật cũng có năm tướng chữ Vạn.

Theo Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp S, quyển 29, thì ở giữa hông của Phật cũng có tướng chữ Vạn. Còn Kinh Đại Bát Nhã, quyển 381, có nói tay, chân và trước ngực của Đức Phật đều có tướng kiết tường hỷ toàn biểu thị công đức của Phật3. Ngoài ra, trong bản Kinh Hoa Nghiêm tân dịch có nhiều chỗ nói về tướng chữ Vạn; kinh viết: “Ngực của Đức Như Lai có tướng bậc đại nhân, hình dáng như chữ Vạn, gọi là “cát tường hải vân” (đám mây lành trên biển). Như vậy, tất cả các kinh trên đều nói rằng chữ Vạn không phải là văn tự mà là biểu tượng chỉ sự kiết tường, biểu trưng cho công đức vô lượng, lòng từ bi vô hạn và trí tuệ vô biên của Đức Phật.

Từ điển Danh từ Phật học Trung Quốc (A Dictionary of Chinese Buddhist terms, William Edward Soothill, Lander, 1937, trang 203, 412) cũng nói: Chữ srivatsa chỉ cho chòm lông xoắn ốc trên ngực của thần Visnu hay biểu hiện của thần Visnu, có nghĩa là hải vân, được biểu trưng bằng chữ Vạn. Đồng thời nó là biểu tượng tốt lành trên dấu chân của Phật và cũng là biểu hiện của bậc Đại nhân đời xưa.

Qua những dẫn chứng trên, chúng ta thấy rằng ký hiệu vốn là một loại biểu tượng để chỉ tướng tốt và    vẻ đẹp của Đức Phật và những vị Thần của đạo Bà-la- môn cũng như những bậc Đại nhân. Đó là ký hiệu của sự cát tường, chứ không phải là chữ viết, nhưng vì xưa nay chúng ta thường đọc là chữ Vạn nên lâu ngày đã trở thành thói quen. Phải chăng cách gọi đó trở nên phổ biến là bắt nguồn từ khi các vị danh tăng như Ngài Cưu-ma- la-thập thời Diêu Tần và Ngài Tam Tạng Huyền Trang đời Đường đều gọi là chữ Đức.

Đến thời Bắc Ngụy, Ngài Bồ- đề-lưu-chi cũng gọi là chữ Vạn hàm nghĩa là “Công đức viên mãn”. Có tính pháp lý nhất cho thói quen này là vào năm Trường Thọ thứ hai dưới triều Võ Hậu Tắc Thiên (693 Tây lịch) đã ra chiếu chỉ khâm định dấu đọc là chữ Vạn biểu ý cho sự tập hợp của“vạn đức kiết tường”. Có lẽ từ đó nó đã trở thành truyền thống trong cách gọi của quảng đại quần chúng ở những nước có tiếp thu văn hóa Trung Hoa, trong đó có Việt Nam. Không biết bà Võ Hậu căn cứ vào đâu mà khâm định biểu tượng từ tướng của sự kiết tường trở thành một loại văn tự – chữ Vạn nhưng vẫn với biểu ý là sự kiết tường. Biết rằng về mặt từ nguyên học thì chữ Vạn Trung Quốc là con bò cạp; là 10 ngàn hay với nghĩa bóng là rất nhiều, vô hạn như vạn tuế, vạn sự, vạn đại không liên quan gì đến hình   .

  1. Chiều xoay của biểu tượng Vạn

Trên thực tế, chúng ta có thể bắt gặp cả hai dạng chiều xoay của biểu tượng Vạn. Căn cứ vào cái bóng của chiều chuyển động chữ thập (+) và của nan hoa bánh xe mà nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng hình   này là xoay về bên phải, thuận chiều kim đồng hồ; còn hình này xoay về bên trái, nghịch chiều kim đồng hồ.

Vấn đề được nhiều người quan tâm và thường xảy ra tranh luận là chiều xoay của tướng Vạn của Phật giáo, xoay về bên phải đúng hay xoay về bên trái mới đúng. Vấn đề này thật sự được nói đến, có lẽ, vào thập niên 40 thế kỷ XX, khi mà Đức Quốc xã ở châu Âu cũng dùng tướng Vạn làm biểu tượng cho chủ nghĩa quân phiệt của mình.

Người Ấn Độ thời cổ đại từng phân biệt rõ ràng chữ Vạn xoay phải và xoay trái khác nhau, như xoay về bên trái để biểu thị các vị nam thần và xoay về bên phải biểu thị các vị nữ thần. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc đại trượng phu, theo chúng tôi thì chắc chắn rằng người Ấn Độ phải sử dụng tướng Vạn xoay về bên trái, nghịch chiều kim đồng hồ để biểu thị thụy tướng cho Đức Phật. Vì vậy, tướng Vạn của Phật giáo phải là như vầy   mới đúng.

Ở Trung Hoa, biểu tượng Vạn được sử dụng không nhiều và có khuynh hướng thiên về chiều nghịch kim đồng hồ. Trong cuốn sưu tập tranh Tượng Phật Trung Quốc do Lý Lược Tam và Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn5, tìm được chín tượng Phật có hình chữ Vạn, trong đó có sáu chữ Vạn  và ba chữ Vạn

Ở Việt Nam, chúng tôi khẳng định Phật giáo Việt Nam sử dụng biểu tượng Vạn này mới đích thực phù hợp với quy luật tự nhiên. Bởi vì, chuyển động ngược chiều kim đồng hồ là chiều vận động của tự nhiên, đó là chiều chuyển động đi từ tâm ra mà ta có thể dễ dàng bắt gặp từ vật nhỏ như dạng xoáy hoa tay, xoáy tóc trên đầu, đường xoáy trên vỏ ốc… cho đến lớn như chiều xoáy của bão, chiều tự chuyển động của trái đất.

Trong các nghi thức tế thần của các dân tộc ở Đông Nam Á cũng như chiều chuyển động của muôn loài trên mặt trống đồng Đông Sơn đều theo chiều ngược kim đồng hồ. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm ở trên, cho rằng, thụy tướng Vạn vốn là tướng của xoáy tóc trên đầu, xoáy lông ở ngực của Phật cũng như của các vị thần Bà-la-môn.

Lịch sử đã chứng minh Đức Phật (tên của Ngài là Gautama Siddattha) là một con người có thật, là con của quốc vương Tịnh Phạn (Suddhodana) và vương phi Maya, thuộc dòng họ Thích-ca (Sakya) ở nước Kapilavastu. Do đó, về mặt sinh học, các tướng xoáy tóc trên đầu, xoáy lông ở ngực của Phật thì cũng phải giống như mọi con người bình thường có dòng máu màu đỏ. Nghĩa là các tướng xoáy tóc trên đầu, xoáy lông ở ngực của Phật đều có chiều xoáy về bên trái, nghịch chiều kim đồng hồ.

Ở Việt Nam tướng Vạn rất phổ biến không chỉ trên ngực tượng Phật mà còn được dùng để trang trí trên các mặt tiền ngôi chùa. Trong cuốn Việt Nam danh lam cổ tự của Võ Văn Tường có tới 21 hình chữ Vạn. Trong đó, tướng Vạn ngược chiều kim đồng hồ chiếm số lượng áp đảo 19/21, duy chỉ có 2 tướng Vạn thuận chiều kim đồng hồ.

Vì thế, nếu chấp nhận những thông tin trên thì tướng Vạn có hướng xoay về bên trái, ngược chiều kim đồng hồ mà Phật giáo Việt Nam sử dụng là có cơ sở tự nhiên, là hợp lý. Xin đừng vì hình tượng Trung Hoa mà tự ti về mình, vì hiện nay có rất nhiều tượng Phật được tạc ở, hoặc có nguồn gốc từ, Trung Quốc và Đài Loan rồi nhập vào Việt Nam; hoặc có nguồn gốc từ hai quốc gia này, với biểu tượng Vạn trên ngực có hướng xoay bên phải, thuận chiều kim đồng hồ.

  1. Ký hiệu trên đảng kỳ của Đức Quốc xã

Đảng Quốc xã Đức, dưới sự lãnh đạo của Hitler, tham vọng thống lĩnh thế giới, tự tôn dân tộc mình lên hàng thượng đẳng, cho rằng mình là hậu duệ chính thống của chủng tộc Aryan, một chủng tộc được xem là ưu tú nhất của thời cổ đại. Theo Bách khoa toàn thư năm 1976 của Mỹ thì vào khoảng 1500 năm trước Tây lịch, người Aryan đã xâm chiếm vùng Tây bắc Ấn Độ rồi định cư tại đó và dần dần trở thành dân tộc chủ thể của Ấn Độ.

Một nhánh khác của chủng tộc này đã di cư sang xâm chiếm Châu Âu và truyền bá ngôn ngữ của họ ở đây. Ở những nơi nào có dấu chân của chủng người Aryan thì đều có sự hiện diện của phù hiệu chữ Vạn. Vì vậy, không có gì phải ngạc nhiên khi Đảng Quốc xã Đức dùng chữ Vạn làm phù hiệu trên đảng kỳ của mình6.

Người phương Tây gọi đảng kỳ của Đức Quốc xã là chữ “thập ngoặc”(croix- briscoe). Đảng Quốc xã Đức dùng hai chữ “S” tức là hai chữ đầu của hai từ “State” (quốc gia) và “Social” (xã hội) đặt chéo nhau ở góc độ nghiêngchu-van alàm ký hiệu trên đảng kỳ và chỉ xuất hiện từ thập niên 30, 40 của thế kỷ XX7. Một thuyết khác cũng cho rằng ký hiệu trên đảng kỳ của Đức Quốc xã Hitler có nguồn gốc từ mẫu tự La-tinh, nhưng không phải ngôn ngữ Anh mà là ngôn ngữ Đức, đó là “Schutzstaffel” đọc tắt là SS (chỉ quân đội của Đức Quốc xã) mà Hitler lúc đó rất coi trọng quân đội này. Một lần viết thư tay, viết tắt chữ này ngẫu nhiên Hitler đã viết lại 2 chữ “S” giao nhau, thế là thành hình . chu-van a

Bản thân Hitler cũng cảm thấy phù hiệu này có một ý nghĩa thần bí mà không nói ra được nên khi Hitler lên nắm quyền đã lấy nó làm đảng kỳ cho Đức Quốc xã8. Như vậy qua những thuyết trên, có thể khẳng định rằng phù hiệu mà Đức Quốc xã sử dụng là hình giống tướng chu-van aVạn ngược chiều kim đồng hồ nhưng nó đặt trong hình thoi, có dạng nghiêng. Trong khi đó, tướng Vạncủa Phật giáo nằm cân đối trong khung hình vuông .

Vì cả hai đều có hướng xoay về bên trái, ngược chiều kim đồng hồ nên để phân biệt giữa hai biểu tượng này người ta gọi biểu tượng của Phật giáo là tướng Vạn hay chữ Vạn, còn ký hiệu của Đức Quốc xã là dấu “thập ngoặc”. Ngoài ra, cũng có thể phân biệt chúng qua màu sắc. Dấu “thập ngoặc” là màu đen trên nền trắng.

Còn theo văn hóa của Ấn Độ thì thụy tướng của Đấng Giác Ngộ mà các nhà tạc tượng Phật giáo áp dụng trang sức trước ngực kim thân Đức Phật, thông thường họ dùng màu vàng kim cho biểu tượng này. Màu vàng là màu tôn quý, biểu trưng cho sự đoan trang mang đến vinh hoa, kiết tường. Trong Ngũ hành thì màu vàng là màu biểu trưng cho hành thổ, màu của trung ương, là màu của đế vương. Hơn nữa, khi nhìn vào tướng Vạn làm cho người ta dễ sanh tâm hoan hỷ và tôn quý, còn khi nhìn đến dấu “thập ngoặc” lại khiến cho người ta nhớ lại một quá khứ rùng rợn.

  1. Biểu tượng Vạn trong tâm thức của tín đồ Phật giáo Việt Nam

Cùng với giáo lý, các biểu tượng của Phật giáo đã được các nhà truyền giáo mang đến nhiều quốc độ khắp Đông Tây. Đối với biểu tượng Vạn, tín đồ ở nhiều nước cũng đều hết sức tôn trọng, xem như vật thiêng của tôn giáo mình. Phật giáo đồ Việt Nam chúng ta cũng rất mực sùng kính, nếu trong điều kiện không có tượng Phật, tín đồ có thể dùng biểu tượng Vạn để thờ với lòng kính ngưỡng của mình. Tuy nhiên, họ không đẩy sự sùng tín đó đi quá xa đến mức thần thánh hóa biểu tượng. Vì thế, biểu tượng còn là vật dùng để trang trí ở các bộ phận kiến trúc của chùa, tháp Phật.

Biểu tượng Vạn, ngoài là vật dùng để trang trí phổ biến ở chùa tháp Phật giáo, nó còn được dùng rất nhiều trong nghệ thuật trang trí của người Việt Nam, trên các bức chạm trổ và điêu khắc bằng gỗ hay kim loại, trang trí bàn ghế, tủ và các đồ dùng nội thất: tứ bình, diềm cửa, tủ thờ, viền các câu đối, v.v ….

Hơn nữa, những người phụ nữ của dân tộc Mán hiện đang sống trên các đỉnh núi Ba Vì ở hai bên bờ sông Đáy, thường sống tập trung thành các cụm dân cư rải rác trên khắp vùng thượng du miền Bắc. Họ thường mặc những bộ quần áo bằng vải thô màu xanh dương có mang hằng dải dài những chữ Vạn thêu màu đỏ hay trắng9.

Đây mới là điều kỳ lạ mà chúng ta không khỏi thắc mắc, liệu những phụ nữ người Mán dùng ký hiệu Vạn làm hoa văn cho trang phục của mình có liên quan gì đến tín ngưỡng, tôn giáo không? Trong công nghệ bao bì thực phẩm hiện nay, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp biểu tượng Vạn này. Ngoài niềm tin là“bùa” may mắn của sản phẩm, người ta đã thấy được sự tinh tế ở ký hiệu này. Vì thế mà họ đã sử dụng nó để in trên bao bì thực phẩm, làm cho bao bì đẹp hơn, bắt mắt hơn và tạo nên tính đặc thù cho sản phẩm của mình.

Tóm lại, thứ nhất, biểu tượng Vạn vốn là biểu tượng văn hóa, không phải là văn tự, có từ thời xa xưa của chủng người Aryan nói chung và người Ấn Độ nói riêng. Với tính chất tốt lành, cao quý nên biểu tượng Vạn được nhiều tôn giáo cổ Ấn Độ dùng làm thụy tướng cho các vị thần của mình. Đến khi Phật giáo ra đời, Phật giáo đã tiếp thu nét tinh hoa truyền thống văn hóa của dân tộc Ấn Độ, trong đó có biểu tượng Vạn, đồng thời Phật giáo là tôn giáo hòa bình và đạo đức đã hợp duyên với biểu tượng Vạn với tính chất tốt lành và cao quý nên người đời đã dành riêng biểu tượng Vạn cho Phật giáo. Vì vậy, hiện nay hễ nói đến biểu tượng Vạn là người ta nghĩ ngay đến Phật giáo.

Thứ hai, biểu tượng Vạn vốn là những hình xoáy của tóc, lông; là tướng tốt tự nhiên trên sắc thân của các vị thần linh của Bà-la-môn giáo cũng như Đức Phật, vì thế xin đừng thần thánh hóa hay đặt để tướng Vạn vào các học thuyết Âm dương, Ngũ hành để dẫn đến những suy luận lệch lạc như tướng Vạn quay theo chiều kim đồng hồ thì cùng chiều tương sinh của Ngũ Hành, mới đem lại sự an lạc, công đức viên mãn, cát tường; còn nếu quay ngược với chiều tương sinh của Ngũ Hành thì nó thiêu hủy hết công đức; những suy luận đó chỉ đem lại phiền não, rất nguy hại.

Thứ ba, biểu tượng Vạn tuy có chiều xoay về bên trái, nghịch chiều kim đồng hồ giống với dấu“thập ngoặc”trên đảng kỳ Đức Quốc xã của Hitler giống với của Phật giáo nói chung và của Phật giáo Việt Nam nói riêng, nhưng hoàn toàn không giống nhau về hình dáng cũng như màu sắc. ■

Title: Biểu tượng “Vạn” của Phật giáo
Authors: Nguyễn, Văn Thoàn
Keywords: Phật giáo

Vạn

Biểu tượng

Issue Date: 2007
Publisher: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Series/Report no.: Số 5;
Description: Tr. 61-69
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19071
Appears in Collections: Nghiên cứu Phật học và Phật hoàng Trần Nhân Tông (LIC)
Uncategorized

Người thổi kèn đám ma

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53824

Tiếng kèn, trống đám ma nghe thật thê lương trong đêm vắng lặng. Gió từ sông cái thổi lên bờ nghe phù phù. Trăng sáng vành vạnh. Ngoài cái rạp to đùng phía ngoài, mấy cái tụ đánh bài “cát tê”, “ tiến lên” giờ đã vắng lặng hơn đầu hôm. Mấy tay “uống rượu nghiền” vẫn còn cầm kha kể chuyện Nam tào, Bắc đẩu để phá tan bầu không khí ảm đạm, đau buồn đang đè nặng lên gia quyến người xấu số.

Ở xứ này cù lao này nhắc tới ban nhạc đám ma “Chín Tần” thì ai cũng biết bởi dàn nhạc này qui tụ nhiều tay nhạc công lừng danh như: Chín Tần thổi kèn nghe đứt từng đoạn ruột, Hai Thẹo đờn ghi ta chạy chữ rong rong nghe thiệt đã cái lổ tai, Tám Lé thì đánh trống đám ma khỏi chê với hai cái cây dùi đánh rất bài bản, lang lớp và điệu nghệ. Riêng Ba Tung thì đờn cò nghe muốn rơi nước mắt. hễ thằng “chả” đờn lên nhiều người nghe “dợn óc” và nổi da gà thiệt ngộ.

Ban nhạc này đi “mần ăn” khắp nơi, nhiều lúc phải từ chối nếu như mấy đám có tang trùng ngày. Thấy vậy mà không ai có dư. Có lẽ lời nguyền tự kiếp trước đã để lại rằng: làm gì chớ làm nhạc công đám ma thì cả đời cháu con hổng khá nổi.

Trong cơn say bí tỉ, Chín tần cao hứng nói liền một mạch:

– Tui nói thiệt nghe ở cái miệt cù lao này, đứa nào hiếu thảo thiệt bụng, thiệt dạ, tui rành quá cỡ thợ mộc. Đứa nào nước mắt cá sấu tui cũng rành tuốt luốt. Mẹ. Còn sống nó bỏ lên bỏ xuống thân sơ thất sở, giờ chết rồi cúng vái tá lả âm binh, làm như có hiếu dữ lắm. Tui mà như mấy người mới ngủm cù đẽo hiện hồn dìa đây chửi mắng, rượt cho nó té đái trong quần luôn.

Cha xỉn nói chuyện từa lưa hột dưa hết vậy cha. Đèn nhà ai nấy sáng. Cha làm sao biết chuyện thiên hạ. Ăn mắm, ăn muối nói bậy, nói bạ, chúng “oánh” chạy không kịp đâu nghe. Hai Lé chọc quê.

– Chạy cái mốc xì. Tui là thổ địa xứ này mấy mươi năm. Con ruồi bay qua là tui biết đó là ruồi đực hay ruồi cái rồi. Chín Tần cười hì hì, thuận tay rót một ly rượu Phú Lễ – Bến Tre tự thưởng rồi uống nghe cái trót thiệt ngon lành.

Nghĩ cũng ngộ. Hồi nhỏ, tía má ông từng mơ ước thằng con thứ chín đẹp trai nhất nhà sẽ công thành danh toại làm kỹ sư, bác sĩ gì đó hay ít nhất cũng làm thầy giáo miệt vườn cho nở mặt, nở mày với bà con lối xóm cù lao này.

Vậy mà đùng một cái, Chín Tần bỏ nhà đi theo ban nhạc đám ma mé bên kia sông Cái mấy năm sau mới vác cái mặt về nhà xin tạ tội. Tía ông “nện” cho ông mấy chục cây roi mây đau điếng, máu túa ướt đít quần, đứng lên hổng nổi phải nằm liệt giường, liệt chiếu mấy ngày. Giận thì đánh con vậy thôi, chớ tía ông biết ông “ nghiền” ban nhạc đám ma hồi nhỏ lận. Nhiều lần theo ông đi đám, Chín Tần cứ ngồi chông ngốc phía dưới bộ ngựa của mấy ông thầy đờn để “ăn cắp” ngón đờn, cách đánh trống với đôi mắt lom lom vì thích thú, mê say.

– Tía giận thì đánh con. Thôi bây mê đờn trống mà bỏ học thì tùy. Có làm thì có chịu, sau này đừng có trách. Nhưng tía dặn…

–  Dạ. Tía dặn gì con xin nghe.

–  Nghĩa tử là nghĩa tận. Phải giúp tang gia chu đáo, không được tính “tán” vụ lợi. Tội chết nghe không.

– Dạ. Con nhớ rồi. Chín Tần đáp lí nhí.

Khởi nghiệp mới đó đã gần bốn mươi năm với bao buồn vui lẫn lộn. Hôm nay ban nhạc chú phục vụ đám tang hoành tránh nhất xóm cù lao này. Người vắn số có xa lạ gì với chú bởi hai nhà gia đình cách nhau một khoảng sân vườn trồng toàn vú sữa ‘lò rèn”. Người quá cố là một bà cụ gần 80 tuổi. Cụ ông mất đã ba mươi năm, con thì đông nhưng hiếm khi thấy chúng về thăm hỏi mẹ mình, đổi lại sự chăm sóc trách nhiệm làm con chung ấy là thuê một người giúp việc ở chung với cụ lo chuyện cơm nước, ốm đau

Chú nhớ lắm những ngày tết sắp đến, bà cụ kêu người chăm chút từng trái vú sữa để đãi con cháu khi chúng về ăn tết. Sẵn cho chúng mang về thành phố làm quà cho bạn bè ăn lấy thảo.

Có lần thấy Chín Tần thức khuya trầm tư bên mấy chung trà “quạo”, bà cụ chống gậy qua tâm sự:

– Bây tính làm nghề thổi kèn tới chừng nào nghỉ?  Rồi hổng tính tới chuyện vợ con gì hết. Lỡ già có khát làm sao bò ra lu nước tự uống một mình sao?

– Trời kêu ai nấy dạ dì ơi! Tại con mê thổi kèn nên quên tính chuyện cưới vợ. Mà làm nghề này “đã” lắm, biết đủ chuyện buồn vui hết. Đông Tây kim cổ chuyện gì cũng biết, nhất là chuyện thế thái nhân tình. Ngoài mặt thì nam mô chớ bụng đầy dao găm. Chín Tần cười khì khì.

– Tao cũng buồn lắm. Thuở đời nay, bảy tám đứa con, nuôi tới lớn ăn học đề huề, ruộng đất bao nhiêu tao cũng bán sạch miễn tụi nó ăn học tới nơi, tới chốn. Giờ đứa làm giám đốc, đứa bác sĩ, đứa kỹ sư. Vậy mà…Cụ im lặng với đôi mắt đỏ hoe.

Có lần cụ ốm nặng, người giúp việc chạy đôn chạy đáo nhắn tin, gọi điện lên Sài Gòn, rồi chỉ thấy mỗi thằng con út lái xe bốn bánh về thăm với lủ khủ bánh mứt, trái cây, sữa ngoại nhập. Nó nói mấy người kia bận chuyện kinh doanh nên không về, chỉ gởi về khá nhiều tiền, quà cho mẹ với lời nhắn “…Mẹ thông cảm, chúng con bận quá, mẹ có thèm gì thì ăn nấy, đừng tiếc tiền…”. Gặp Chín Tần, cụ kể: buồn lắm! Gần đất xa trời như cụ thì có ham muốn ăn uống gì nữa đâu, cụ chỉ mong gặp mặt con cháu nhiều hơn giữa không gian luôn quạnh quẽ đến nao lòng.

Nhiều lúc rảnh rỗi, cụ chống gậy sang nhà chín Tần tâm sự, cụ sợ nhất là lúc đêm về, nỗi cô đơn trống vắng tình thương gia đình làm cụ không sao ngủ được. Vậy là thức trắng để nhớ chồng, nhớ con, nhớ cháu, nhớ cái thuở hàn vi nhưng hạnh phúc làm sao, bởi mỗi ngày bên mâm cơm đạm bạc luôn có đủ mặt các thành viên trong gia đình.

Đám tang bà cụ quá lớn khiến người dân cù lao bàn tán xôn xao. Trong căn nhà ba tầng sang trọng to nhất khu phố này. Nhà cao và rộng, lũ con xây để về ngủ khi đến lệ giỗ ba chúng, mỗi năm cụ chỉ có được một ngày hạnh phúc vì gặp đầy đủ các con cháu, hôm sau thì vắng tanh, chỉ còn cụ và người giúp việc. Đến Tết chúng cũng ít khi có mặt đầy đủ vì phải đi ngoại giao chúc Tết, tiếp khách lu bù. Đêm giao thừa nào cụ cũng khóc và thức đến sáng.

Đêm nay nhạc tây, nhạc ta inh ỏi nối tiếp nhau sau các đợt tụng kinh siêu thoát. Xe du lịch của bạn bè lũ con đậu kín con đường to rộng nhất cù lao này. Đám tang làm heo, bò, gà vịt liên tục. Bàn nhậu này kéo theo bàn nhậu khác rôm rả. Chúng nó mướn cả đoàn ca nhạc và làm xiếc đến phục vụ suốt đêm. Nghe đâu cái quan tài để cụ nằm trị giá gần trăm triệu đồng. Chúng còn mua đất trong nghĩa trang tư nhân cao cấp để cụ an nghỉ chớ không chịu để cụ nằm trên đất nhà.

– Tội nghiệp mấy đứa con bà Tám, có hiếu hết sức, làm đám ma lình đình, chắc dưới âm ty bả cũng nở mặt nở mày. Tiếng bà sáu “bánh khọt” nói.

– Hiếu mới lạ. Hổng lẽ ngay nhà người ta mà mình nói huỵch tẹt ra hổng nên. Cả đám con lo làm giàu có ngó ngàng gì tới bả đâu. Bả đâu cần tiền. Bả cần tình thương, sự lễ phép của đám con. Chín Tần nói khẽ.

Có xa xôi gì lắm đâu, ở đầu cù lao này, ai cũng biết tới chuyện đám ma bà Bảy “chuối chiên”. Nhà nghèo nhất xứ này mà không đứa con nào bị dốt. Vợ chồng nghèo mà thương nhau thiệt bụng, con cái hiếu thảo vô chừng. Hồi đám ma không ai cầm được nước mắt vì biết rõ tỏng tòng tong chuyện mấy đứa nhò thay nhau túc trực ngày đêm trong bệnh viện đến lúc bả mất. Cám cảnh Chín Tần dẫn quân tới phục vụ miễn phí ngọt xớt. Tiếng kèn não nuột của ông vang xa lồng lộng trên sông lạnh nghe xót xa lòng. Có lúc đang thổi kèn, ông phải ngừng lại vì xúc động dâng trào. Lũ nhỏ có hiếu làm sao.

Vây mà đêm nay, tiếng kèn đám ma của ông nghe nghèn nghẹn làm sao dù mấy đứa con của bà Tám đã hào phóng nhét vào túi ông bảy triệu đồng tiền công của hai đêm phục vụ đám ma. Số tiền quá hậu hỉ và cũng là lần đầu tiên ông có được trong đời thổi kèn của mình.

Tuyệt nhiên không thấy một giọt nước mắt nào tại đám tang. Có lẽ lũ con đã mãn nguyện với sự hiếu thảo của mình, hay có lẽ các con đã thấy lòng nhẹ nhõm vì từ nay không sợ người đời cho là bất hiếu nữa, từ nay khỏi phải điện thoại thăm nom, hay phải phóng xe hàng trăm cây số về thăm mẹ khi trái gió trở trời.

Tiếng kèn đám tang bất chợt lại vang lên thống thiết trên dòng sông rộng mênh mang nước chảy.