Uncategorized

Cho thuê lại lao động theo pháp luật lao động Việt Nam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/17001
Điều 54 Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012) có quy định cụ thể về hoạt động cho thuê lại lao động như sau:
1. Cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
2. Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ được thực hiện đối với một số công việc nhất định.”

Điều 54 BLLĐ 2013 cũng xác định các nghĩa vụ cụ thể đối với doanh nghiệp cho thuê lại lao động khi có hoạt động kinh doanh này:
“1. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ và được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động.
2. Thời hạn cho thuê lại lao động tối đa không quá 12 tháng.
3. Chính phủ quy định việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động
Do là hoạt động mới được pháp luật lao động quy định cụ thể, nên, việc xin cấp giấy phép hoạt động kinh doanh lĩnh vực này chịu giới hạn chặt chẽ, chỉ khi đáp ứng được các điều kiện, doanh nghiệp cho thuê lại lao động mới được cấp phép. Bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện về ký quỹ, vốn pháp định cũng như điều kiện đối với người đứng đầu doanh nghiệp, Quý khách hàng lưu ý, việc thực hiện cho thuê lại lao động và được cấp phép thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động chỉ khi hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc danh mục những công việc được phép thực hiện cho thuê lại lao động. Đối với công việc dịch vụ bảo vệ mà Quý khách hàng đang thực hiện, Công ty Luật Minh Gia xác định đây là một công việc được BLLĐ 2013 và Nghị định 55/2013/NĐ-CP cho phép thực hiện hoạt động thuê lại lao động và được tiến hành xin cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động (Gửi kèm theo đây Phụ lục V Nghị định 55/2013/NĐ-CP quy định 17 loại hình công việc được phếp hoạt động cho thuê lại lao động).
Các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
Để được Cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, Quý khách hàng cần lưu ý các điều kiện phải thực hiện như sau
Thứ nhất, thực hiện ký quỹ tại một ngân hàng thương mại
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 55/2013/NĐ-CP quy định mức ký quỹ để được cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động là 2.000.000.000 đồng. Quý Khách hàng phải nộp tiền ký quỹ này tại Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp cho thuê (tức Công ty Quý khách hàng) mở tài khoản giao dịch chính và được hưởng mức lãi suất từ tiền ký quỹ này theo thỏa thuận với ngân hàng. Tiền ký quỹ này theo Điều 15 BLLĐ 2013 dùng để thoanh toán tiền lương và bồi thường cho người lao động thuê lại trong trường hợp doanh nghiệp cho thuê vi phạm hợp đồng với người lao động thuê lại hoặc gây thiệt hại do không bảo đảm lợi ích cho người lao động thuê lại.
Thứ hai, điều kiện về vốn pháp định
Khoản 2 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị định 55/2013/NĐ-CP xác định doanh nghiệp cho thuê để được cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động phải đảm bảo mức vốn pháp định là 2.000.000.000 đồng, đồng thời mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định trong suốt quá trình hoạt động.
Thứ ba, điều kiện về trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp cho thuê:
Trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp cho thuê phải ổn định và có thời hạn ít nhất từ 02 năm trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh thì trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc gia hạn Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động phải có giấy tờ hợp lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ 02 năm trở lên. Đối với trường hợp trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp cho thuê là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh, giấy tờ hợp lệ để chứng minh là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của người đứng tên (hướng dẫn theo Điều 4 Thông tư 01/2013/TT-BLĐTBXH).
Thứ tư, điều kiện về người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện cho thuê:
Người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện cho thuê phải đáp ứng được các điều kiện theo Điều 8 Nghị định 55/2013/NĐ-CP
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng;
2. Có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 03 năm trở lên;
3. Trong 03 năm liền kề trước khi đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, không đứng đầu doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không tái phạm hành vi giả mạo hồ sơ xin cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ xin cấp, cấp lại hoặc gia hạn Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động”.
Theo hướng dẫn của Thông tư 01/2014/TT-BLĐTBXH, người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp cho thuê theo Điều 8 Nghị định số 55/2013/NĐ-CP là người chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty hoặc người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hoặc người đại diện theo ủy quyền của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông hoặc người đại diện theo ủy quyền của cổ đông đối với công ty cổ phần, thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh. Trường hợp Quý khách hàng là công ty cổ phẩn, theo hướng dẫn này, người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp cho thuê là cổ đông hoặc người đại diện theo ủy quyền của cổ đông.

 

Hồ sơ, thủ tục xin cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
Về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động được hướng dẫn theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 55/2013/NĐ-CP gồm:
a) Văn bản đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động (Gửi kèm theo thư tư vấn này đơn đề nghị cấp giấy phép cho thuê lại lao động);
b) Văn bản chứng minh đủ điều kiện về vốn pháp định;
c) Giấy chứng nhận việc đã thực hiện ký quỹ (gửi kèm theo đây mẫu tại phụ lục 3 Nghị định 55/2013/NĐ-CP);
d) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp;
đ) Giấy chứng minh điều kiện của người đứng đầu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
e) Giấy chứng minh đủ điều kiện về địa điểm.
Cụ thể, đối với giấy tờ chứng minh vốn pháp định, điều kiện địa điểm và người đứng đầu doanh nghiệp lưu ý như sau:
Một, hồ sơ chứng minh điều kiện về vốn pháp định bao gồm
+ Biên bản góp vốn của các cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần hoặc của các thành viên sáng lập đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên; quyết định giao vốn của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; bản đăng ký vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân và đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà chủ sở hữu là cá nhân;
+ Đối với số vốn được góp bằng tiền phải có văn bản xác nhận của ngân hàng thương mại được phép hoạt động tại Việt Nam, nơi doanh nghiệp gửi vốn góp bằng tiền về mức vốn được gửi
+ Đối với số vốn góp bằng tài sản phải có chứng thư của tổ chức có chức năng định giá ở Việt Nam về kết quả định giá tài sản được đưa vào góp vốn. Chứng thư phải còn hiệu lực tính đến ngày nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền.
Hai, hồ sơ chứng minh điều kiện của người đứng đầu danh nghiệp:
+ Hợp đồng về việc quản lý, điều hành hoạt động cho thuê lại lao động hoặc hợp đồng về việc quản lý, điều hành hoạt động cung ứng lao động để chứng minh về việc có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.
+ Sơ yếu lý lịch của người đứng đầu doanh nghiệp cho thuê (nội dung sơ yếu lý lịch theo hướng dẫn tại Phụ lục 2 Thông tư 01/2014/TT-BLĐTBXH gửi kèm theo Thư tư vấn này)
Ba, giấy chứng minh địa điểm;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp là nhà thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh
+ Hợp đồng cho thuê nhà có thời hạn thuê từ 2 năm trở lên
Về trình tự, thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động:
+ Doanh nghiệp có trách nhiệm gửi trực tiếp, đầy đủ 01 bộ Hồ sơ cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để đề nghị thẩm định Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, đồng thời gửi 01 Hồ sơ trên về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Vụ Pháp chế) để tiến hành đề nghị cấp, Giấy phép.
+ Trong trường hợp Hồ sơ gửi đề nghị thẩm định của doanh nghiệp nộp không đầy đủ các văn bản được quy định trong Hồ sơ cấp Giấy phép, thì trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận Hồ sơ đề nghị thẩm định, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp về việc đề nghị bổ sung các văn bản còn thiếu
+ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định tính xác thực các nội dung của Hồ sơ trong vòng 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ và gửi kết quả của việc thẩm định Hồ sơ cùng 01 bản sao Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Vụ Pháp chế)
+ Bộ trưởng Lao động – Thương binh và Xã hội căn cứ vào Hồ sơ đề nghị cấp của doanh nghiệp và kết quả thẩm định Hồ sơ của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, cũng như các quy định khác có liên quan để tiến hành việc cấp hoặc không cấp Giấy phép theo thời hạn được quy định tại Khoản 2 Điều 13 của Nghị định số 55/2013/NĐ-CP và có văn bản trả lời gửi cho doanh nghiệp, đồng thời gửi cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi tiến hành thẩm định Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn Giấy phép về quyết định đó.
+ Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép, doanh nghiệp cho thuê phải có văn bản thông báo kèm theo bản sao Giấy phép gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và niêm yết công khai bản sao Giấy phép tại trụ sở chính của doanh nghiệp.
+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép, doanh nghiệp phải đăng nội dung Giấy phép trên một báo điện tử trong 05 ngày liên tiếp.
Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ có thể đối chiếu với các quy định pháp lý kể trên nếu Quý Công ty đáp ứng được đầy đủ các điều kiện kể trên có thể mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê lại lao động. Với những điều kiện hiện tại Công ty hoàn toàn có thể kinh doanh dịch vụ bảo vệ mà không cần có giấy phép cho thuê lại lao động theo phân tích kể trên.

Advertisements
Uncategorized

Three new species of the water strider genus Rhyacobates Esaki, 1923 (Hemiptera: Gerridae) from Vietnam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/27504

Three new species: Rhyacobates zetteli sp.n., R. angustus sp.n., and R. constrictus sp.n., all from mountainous areas of northern Vietnam, are described.

With these new taxa, a total of six species of Rhyacobateshas been recorded from Vietnam.
A key to species of Rhyacobatesoccurring in Vietnam is provided

Title:

Three new species of the water strider genus Rhyacobates Esaki, 1923 (Hemiptera: Gerridae) from Vietnam
Authors:
Tran, A. D.

Nguyen, X. Q.
Keywords:
Gerridae

Vietnam

New species

Rhyacobates
Issue Date:
2016
Publisher:
H. : Đại học Quốc gia Hà Nội
Citation:
ISIKNOWLEDGE
Abstract:
Three new species: Rhyacobates zetteli sp.n., R. angustus sp.n., and R. constrictus sp.n., all from mountainous areas of northern Vietnam, are described. With these new taxa, a total of six species of Rhyacobateshas been recorded from Vietnam. A key to species of Rhyacobatesoccurring in Vietnam is provided
Description:
ZOOTAXA Volume: 4121 Issue: 5 Pages: 501-516 ; TNS06432
URI:
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/27504
Appears in Collections:
Bài báo của ĐHQGHN trong Web of Science

 

 

Uncategorized

Báo chí với vấn đề bảo hiểm xã hội

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/17319
Giới thiệu luận văn “Báo chí với vấn đề bảo hiểm xã hội”
Tác giả: Dương Văn Thắng
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/17319
Trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thông tin báo chí và bảo hiểm xã hội (BHXH); mối quan hệ giữa báo chí với vấn đề BHXH.

Đánh giá thực trạng thông tin về BHXH trên báo chí qua nghiên cứu nội dung thông tin về BHXH, số lượng và hình thức thông tin về BHXH trên 3 tờ báo được khảo sát là báo Nhân dân, Lao động, Sức khoẻ & đời sống năm 2006-2007.
Xây dựng những nhóm giải pháp nâng cao chất lượng thông tin BHXH trên báo chí: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin BHXH; nâng cao năng lực phóng viên báo chí viết về đề tài BHXH; nâng cao chất lượng về nội dung và hình thức thông tin BHXH

Title:
Báo chí với vấn đề bảo hiểm xã hội
Authors:
Dương, Văn Thắng
Keywords:
An sinh xã hội

Báo chí

Bảo hiểm xã hội
Issue Date:
2008
Publisher:
Đại học Quốc gia Hà Nội
Citation:
144 tr.
Abstract:
Trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thông tin báo chí và bảo hiểm xã hội (BHXH); mối quan hệ giữa báo chí với vấn đề BHXH. Đánh giá thực trạng thông tin về BHXH trên báo chí qua nghiên cứu nội dung thông tin về BHXH, số lượng và hình thức thông tin về BHXH trên 3 tờ báo được khảo sát là báo Nhân dân, Lao động, Sức khoẻ & đời sống năm 2006-2007. Xây dựng những nhóm giải pháp nâng cao chất lượng thông tin BHXH trên báo chí: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin BHXH; nâng cao năng lực phóng viên báo chí viết về đề tài BHXH; nâng cao chất lượng về nội dung và hình thức thông tin BHXH
URI:
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/17319
Appears in Collections:
Luận văn – Luận án (LIC)

Uncategorized

Đá sinh vật cháy

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19159
Đá sinh vật cháy là đá trầm tích nguồn gốc sinh vật, có thể đốt cháy được. Nó là một loại đá đặc biệt, vì không phải là sản phẩm phá hủy của một loại đá nào đó, cũng không phải phân ly từ dung dịch thật hay do sự ngưng keo, mà là sản phẩm của sinh vật (bao gồm động vật và thực vật) đã bị biến đổi thành vật chất hoàn toàn mới.

Xuất phát từ đặc điểm đó. M.S. Svetsov (1968) đã tách các loại đá cháy được thành một nhóm độc lập, gọi là nhóm có nguồn gốc quang hợp.
Bởi vì, sự phát triển của sinh vật, đặc biệt là thực vật, cũng như trong giai đoạn đầu của sự thành tạo các loại trầm tích này đều liên quan với nước, không khí và chịu sự tác dụng của năng lượng Mặt Trời.
Title:

Đá sinh vật cháy
Authors:
Trần, Nghi
Keywords:
Đá phiến cháy

Than bùn thối

Than đá

Đá sinh và chứa dầu khí
Issue Date:
2017
Publisher:
H. : ĐHQGHN
Abstract:
Đá sinh vật cháy là đá trầm tích nguồn gốc sinh vật, có thể đốt cháy được. Nó là một loại đá đặc biệt, vì không phải là sản phẩm phá hủy của một loại đá nào đó, cũng không phải phân ly từ dung dịch thật hay do sự ngưng keo, mà là sản phẩm của sinh vật (bao gồm động vật và thực vật) đã bị biến đổi thành vật chất hoàn toàn mới. Xuất phát từ đặc điểm đó. M.S. Svetsov (1968) đã tách các loại đá cháy được thành một nhóm độc lập, gọi là nhóm có nguồn gốc quang hợp. Bởi vì, sự phát triển của sinh vật, đặc biệt là thực vật, cũng như trong giai đoạn đầu của sự thành tạo các loại trầm tích này đều liên quan với nước, không khí và chịu sự tác dụng của năng lượng Mặt Trời.
Description:
tr. 419-432.
URI:
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19159
Appears in Collections:
Thông tin địa chất và tài nguyên địa chất Việt Nam (LIC)

 

 

Uncategorized

Địa hóa môi trường

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18506

Title:

Địa hóa môi trường
Authors:
Mai, Trọng Nhuận

Nguyễn, Thị Hoàng Hà
Keywords:
Địa chất

Địa chất môi trường

Địa hóa
Issue Date:
2017
Publisher:
H. : ĐHQGHN
Citation:
tr. 992 – 1002
Abstract:
Địa hóa môi trường trở thành một lĩnh vực khoa học từ những năm 1970, được công bố bởi Bormann và Likens (1967) và Hội Hóa học Mỹ (1971). Tuy nhiên, những nghiên cứu về địa hóa môi trường được thực hiện từ những năm 1760 (Cavendish, 1767). Các công trình nền tảng của địa hóa môi trường là các nghiên cứu về sinh quyển (Venatski), địa hóa cảnh quan (BB Polunov, AI Perenman), địa hóa biểu sinh (AI Fesman, KI Lukashev), địa hóa sinh thái (VV Kovalskii), địa hóa môi trường và sức khỏe (Thomas JS). Vào đầu những năm 2000, địa hóa môi trường phát triển theo các hướng: địa hóa kỹ thuật, địa hóa các chất ô nhiễm, địa hóa y học, địa hóa sinh thái, địa hóa nông nghiệp, địa hóa tai biến, địa hóa công trình, địa hóa môi trường khu vực. Hiện nay, các hướng nghiên cứu mới về địa hóa môi trường mở rộng sang quản lý và xử lý môi trường bị ô nhiễm bởi kim loại nặng, hợp chất hữu cơ, nguyên tố phóng xạ, địa hóa môi trường và sức khỏe, sử dụng đồng vị bền trong nghiên cứu nguồn gốc chất ô nhiễm, và biến đổi khí hậu (phục hồi lại điều kiện cổ khí hậu và cổ môi trường)… Có một số định nghĩa khác nhau về địa hóa môi trường nhưng hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến mối quan hệ tương tác giữa các nguyên tố hóa học trong các thành tạo bề mặt với môi trường sống (trong đó có con người) (Sarkar và nnk, 2007). Theo định nghĩa của Bách khoa Khoa học và Công nghệ (Khoa học Môi trường), địa hóa môi trường liên quan đến thành phần hóa học cấu tạo nên đá, đất, nước, khí và sinh vật gần bề mặt Trái Đất và các phản ứng hóa học xảy ra trong môi trường tự nhiên. Đối tượng của địa hóa môi trường là hành vi các nguyên tố hóa học (sự phân bố, dạng tồn tại, sự di chuyển, tập trung, phân tán, nguồn gốc) trong môi trường sống, trong các quá trình, thành tạo bề mặt và mối quan hệ giữa hành vi các nguyên tố và chất lượng môi trường sống. Địa hóa môi trường có nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử hành vi các nguyên tố hóa học trong môi trường, trong các thành tạo và các quá trình tự nhiên và nhân sinh có ảnh hưởng đến con người và sinh vật:  Nghiên cứu bản chất địa hóa của môi trường sống: đặc điểm hóa – lý, sinh địa hóa các hợp phần môi trường, thành phần hóa học, dạng tồn tại, lịch sử, hành vi, nguồn gốc các nguyên tố trong môi trường sống và các quá trình địa hóa xảy ra trong môi trường sống đó;  Quy luật phân bố, tập trung, phân tán các nguyên tố hóa học trong các hợp phần môi trường sống, xác định mức độ độc hại, ảnh hưởng của các độc tố và các nguyên tố có ích đối với sinh quyển và con người;  Nghiên cứu lịch sử hành vi các nguyên tố hóa học trong các quá trình tự nhiên và nhân sinh xảy ra trong môi trường sống;  Nghiên cứu và xây dựng mô hình cân bằng vật chất – năng lượng và biện pháp chống mất cân bằng nguyên tố trong môi trường sống; nghiên cứu sự tích lũy, dạng tồn tại các nguyên tố có ích, có hại trong cơ thể con người trong mối quan hệ với đặc điểm địa hóa của môi trường sống;  Xây dựng cơ sở khoa học địa hóa để sử dụng và cải tạo đất, nâng cao độ phì của đất, năng suất cây trồng;  Nghiên cứu nguồn gốc và bản chất địa hóa của ô nhiễm môi trường, xác lập cơ sở khoa học địa hóa để sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường;  Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm địa hóa của môi trường tự nhiên với bệnh tật và sức khỏe con người, đề xuất phương hướng phòng bệnh và các biện pháp nâng cao sức khỏe cộng đồng;  Xây dựng cơ sở khoa học địa hóa trong xử lý ô nhiễm môi trường và nghiên cứu biến đổi khí hậu thông qua phục hồi lại điều kiện cổ khí hậu, cổ môi trường…
URI:
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18506
Appears in Collections:
Thông tin địa chất và tài nguyên địa chất Việt Nam (LIC)

Uncategorized

Nhập siêu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/44507

Trong lĩnh vực kinh tế, tính đến hết tháng 5/ 2017, Việt Nam nhập siêu gần 2,7 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 5 thâm hụt 800 triệu USD.

Tổng cục Hải quan ngày 30/5 cho biết trong 5 tháng đầu năm tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam ước đạt hơn 161 tỷ đô la Mỹ tăng 20,7%, so với cùng kỳ năm 2016 và tổng giá trị nhập khẩu ước chừng 82 tỷ tăng 23,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Về xuất khẩu, nhóm hàng điện thoại và linh kiện tăng 12%, hàng dệt may tăng 9% so với cùng kỳ năm 2016.

Về nhập khẩu, nhóm máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 38,8%, nhóm điện thoại, linh kiện tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước.
Mời các bạn tìm hiểu luận văn cùng chủ đề “Nhập siêu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Lê tại đường link http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/44507

Làm rõ khái niệm nhập siêu, hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập kinh tế đến cân bằng cán cân thương mại ở Việt Nam. Trình bày kinh nghiệm kiềm nhập siêu của một số quốc gia. Phân tích thực trạng nhập siêu của Việt Nam từ thập kỷ 90 đến nay.

Uncategorized

Tìm hiểu kỹ thuật đúc trống đồng Ngọc Lũ

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/22756
Ở mỗi dân tộc, trong buổi bình minh lịch sử của mình thường được đánh dấu bằng một công trình xây dựng kỳ diệu, như những kim tự tháp đồ sộ của Ai Cập cổ, hoặc một vật tiêu biểu như tượng thần Dớt ở Olympia của Hy Lạp cổ. Trong thời kỳ hình thành và phát triển của nền văn minh Việt cổ, dân tộc ta đã có một loại di vật tiêu biểu tượng trưng xứng đáng của mình.
Đó là trống đồng. Là sản phẩm của thời kỳ cực thịnh của Nhà nước Văn Lang, trống đồng đã đi vào lịch sử nước ta như một kỳ công tuyệt diệu. Cái tên trống đồng Ngọc Lũ với hình dáng cân đối hài hòa, phủ kín mình những hoa văn đẹp nhất, đã từ lâu rồi, không chỉ rất quen biết, thân thiết với chúng ta, mà còn rất nổi tiếng trên thế giới.

 

 

 

 

 

Trống đồng Ngọc Lũ có niên đại 2.500 năm cách ngày nay, được xếp vào loại H1 – Heger (theo sự phân loại dựa trên 165 chiếc trống đồng được biết đến thời điểm ấy của học giả F.Héger – người Áo – vào năm 1902), H1 là “loại cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời”. Ngọc Lũ là một trong số không nhiều trống đồng giữ vai trò ấy.
Trống có patin màu xanh ngả xám, đường kính mặt 79,3cm, cao 63cm, nặng 86kg, thuộc loại kích thước lớn. Mặt trống đúc liền chờm ra khỏi tang. Tang trống nở phình, thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi. Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công. Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn. Vành 1, 5, 11 và 16: Những hàng chấm nhỏ. Vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14: Những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3: Những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16: Văn răng cưa. Vành 6, 8 và 10: Hình người và động vật đi quanh ngôi sao theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Trong đó là các nhóm: Người mặc áo lông chim đang nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng.

 

 

 

Tang trống chính là chiếc hộp cộng hưởng khuếch đại âm thanh. Phần trên có 6 vành hoa văn hình học. Vành 1 và 6: Những đường chấm nhỏ thẳng hàng. Vành 2 và 5: Văn răng cưa. Vành 3 và 4: Hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Phần dưới là 6 chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải, chở chiến binh tay cầm vũ khí và tù binh, xen giữa là những hình chim cò ngậm cá, chó săn được thể hiện theo lối cách điệu. Gắn giữa tang và thân trống là hai đôi quai kép đúc nổi hoa văn bông lúa, đối xứng nhau.
Thân trống hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh. Phần giữa của thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật. Trong ô là các võ sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừa múa. Phần dưới của thân là ba vành hoa văn hình học, giữa là vành văn vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Hai bên là hai đường chấm nhỏ. Ngoài cùng là hai đường chỉ trơn.
Chân trống nở choãi hình nón cụt là cửa mở để âm thanh của trống thoát ra và tỏa rộng nhanh chóng, không trang trí. Rìa mặt trống có vết lõm nhỏ, đó là dấu vết của những con kê để lại khi đúc trống.

 

 

Tên của Ngọc Lũ – chiếc trống Đông Sơn cổ nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn này – vốn không phải địa danh của nơi phát hiện như người ta thường nghĩ với các chiếc trống khác. Trong “Quản lý văn vật”, tháng 12 năm 1965 (Nội san của Vụ Bảo tồn bảo tàng) Trần Huy Bá cho biết: Theo lời cụ Nguyễn Đăng Lập (85 tuổi) – người xã Ngọc Lũ – vào khoảng năm 1893 – 1894, các ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Túc và một số người khác đắp đê ở xã Như Trác, huyện Nam Xang (nay là Lý Nhân) hữu ngạn sông Hồng. Khi đào ở bãi cát bồi thì thấy ở dưới độ sâu 2 mét lộ ra một vật bằng đồng rất lớn, các ông vội lấp đất rồi đến đêm mới kéo ra đào thì thấy một trống đồng, các ông khiêng về cúng vào đình làng Ngọc Lũ. Sau 7 – 8 năm, một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình thấy trống liền báo cho Công sứ Hà Nam. Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15.11.1902 ở Hà Nội, trống được Trường Viễn Đông Bác Cổ mua lại với giá 550 đồng.
Trong tạp chí Khảo cổ học năm 1974, chi tiết về xuất xứ của Ngọc Lũ có khác một chút khi cho rằng người dân đã cúng trống vào chùa Long Đọi Sơn chứ không phải đình làng, cũng thuộc xã Ngọc Lũ, cách nơi phát hiện 30km về phía đông bắc. Chỉ những khi có lễ cúng mới mang trống ra đánh, còn ngày thường để ở hậu cung. Từ năm 1958 đến nay, trống đồng Ngọc Lũ luôn được lưu giữ, trưng bày tại hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đã có ý kiến đề nghị đổi tên thành Như Trác cho tiêu bản trống đẹp và tiêu biểu nhất này, song trống đã nổi tiếng từ lâu với tên Ngọc Lũ, và một sự thay tên như thế cũng không cần thiết, về mặt khoa học.
Trống đồng Ngọc Lũ thuộc sưu tập trống đồng Đông Sơn là đại diện loại hình hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á. Trong hàng ngàn chiếc trống được phát hiện từ trước đến nay (không hề có chiếc nào giống nhau hoàn toàn), trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếc trống có kiểu dáng và kích thước hài hòa nhất, trang trí hoàn mỹ và phong phú nhất.
Mời các bạn tìm hiểu bài viết cùng chủ đề “Tìm hiểu kỹ thuật đúc trống đồng Ngọc Lũ” của tác giả Hoàng Văn Khoán tại đường link http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/22756