Uncategorized

Xác định cấu trúc nhiệt độ Vịnh Bắc Bộ

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57190

Vịnh Bắc Bộ là khu vực có cấu trúc nhiệt độ phức tạp do vùng này chịu các tác động của các sông, sự phân hóa trường gió và chế độ nhiệt trên mặt biển thay đổi lớn.

Trong thời gian qua chúng tôi đã ứng dụng phương pháp bình phương tối thiểu có trọng số (LOWESS) xây dựng mặt cong trơn thể hiện sự phân hóa cấu trúc nhiệt độ theo trường bề mặt và theo độ sâu áp dụng cho khu vực Vịnh Bắc Bộ nhằm xác định cấu trúc nhiệt độ gần đúng nhất làm trường ban đầu cho các mô hình nghiên cứu các trường thủy văn biển trên khu vực nghiên cứu.

Trong bài báo này áp dụng phương pháp xây dựng mặt cong trơn biến thiên của nhiệt độ theo độ sâu thông qua sử dụng các số liệu khảo sát đo đạc thu thập để xác định cấu trúc 3 chiều nhiệt độ khu vực Vịnh Bắc Bộ.

 

Title: Xác định cấu trúc nhiệt độ Vịnh Bắc Bộ
Authors: Hà, Thanh Hương
Keywords: Vịnh Bắc Bộ;cấu trúc nhiệt độ
Issue Date: 2016
Publisher: ĐHQGHN
Series/Report no.: Vol 32, No 3S (2016);
Abstract: Vịnh Bắc Bộ là khu vực có cấu trúc nhiệt độ phức tạp do vùng này chịu các tác động của các sông, sự phân hóa trường gió và chế độ nhiệt trên mặt biển thay đổi lớn. Trong thời gian qua chúng tôi đã ứng dụng phương pháp bình phương tối thiểu có trọng số (LOWESS) xây dựng mặt cong trơn thể hiện sự phân hóa cấu trúc nhiệt độ theo trường bề mặt và theo độ sâu áp dụng cho khu vực Vịnh Bắc Bộ nhằm xác định cấu trúc nhiệt độ gần đúng nhất làm trường ban đầu cho các mô hình nghiên cứu các trường thủy văn biển trên khu vực nghiên cứu. Trong bài báo này áp dụng phương pháp xây dựng mặt cong trơn biến thiên của nhiệt độ theo độ sâu thông qua sử dụng các số liệu khảo sát đo đạc thu thập để xác định cấu trúc 3 chiều nhiệt độ khu vực Vịnh Bắc Bộ.
Description: tr. 109-115
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57190
ISSN: 2588-1094
Appears in Collections: Earth and Environmental Studies

 

Uncategorized

Nghiên cứu chế tạo vật liệu xử lý asen trong nước từ bùn đỏ

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57203

Nghiên cứu chế tạo vật liệu xử lý asen dạng viên từ phế thải bùn đỏ từ các nhà máy sản xuất quặng nhôm để ứng dụng xử lý asen trong nước cấp.

Bùn đỏ được phối trộn với các chất kết dính như laterit, silicagel và theo tỷ lệ khác nhau để tạo thành các vật liệu dạng viên RS-5, RS-10, RS-15 và TC-20.

Vật liệu TC-20 có khả năng hấp phụ asen tốt nhất và được chọn để tiếp tục tiến hành các thí nghiệm theo mẻ để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ asen của vật liệu TC-20.

Kết quả nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật liệu TC-20 cho thấy khoảng pH tối ưu là 3,5 – 7, thời gian đạt cân bằng hấp phụ ngay từ 10 phút đầu tiên.

Động học của quá trình hấp phụ của vật liệu tuân theo phương trình đẳng nhiệt Langmuir với dung lượng hấp phụ cực đại của vật liệu TC-20 biến tính đạt 8,38 (mg/g).

 

 

Title: Nghiên cứu chế tạo vật liệu xử lý asen trong nước từ bùn đỏ
Authors: Phạm, Thị Thúy
Nguyễn, Thị Thanh Mai
Nguyễn, Mạnh Khải
Keywords: Bùn đỏ;hấp phụ asen;vật liệu hấp phụ
Issue Date: 2016
Publisher: ĐHQGHN
Series/Report no.: Tập 32, Số1S (2016);
Abstract: Nghiên cứu chế tạo vật liệu xử lý asen dạng viên từ phế thải bùn đỏ từ các nhà máy sản xuất quặng nhôm để ứng dụng xử lý asen trong nước cấp. Bùn đỏ được phối trộn với các chất kết dính như laterit, silicagel và theo tỷ lệ khác nhau để tạo thành các vật liệu dạng viên RS-5, RS-10, RS-15 và TC-20. Vật liệu TC-20 có khả năng hấp phụ asen tốt nhất và được chọn để tiếp tục tiến hành các thí nghiệm theo mẻ để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ asen của vật liệu TC-20. Kết quả nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật liệu TC-20 cho thấy khoảng pH tối ưu là 3,5 – 7, thời gian đạt cân bằng hấp phụ ngay từ 10 phút đầu tiên. Động học của quá trình hấp phụ của vật liệu tuân theo phương trình đẳng nhiệt Langmuir với dung lượng hấp phụ cực đại của vật liệu TC-20 biến tính đạt 8,38 (mg/g).
Description: tr. 370-376
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57203
ISSN: 0866-8612
Appears in Collections: Earth and Environmental Studies

 

Uncategorized

Ảnh hưởng của xâm nhập lạnh sâu đến mưa ở Việt Nam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57259

Sử dụng mô hình RAMS mô phỏng các đợt xâm nhập lạnh sâu xuống Việt Nam và dự báo lượng mưa trong các đợt lạnh này.

Không khí lạnh hoạt động độc lập và không tạo ra xoáy ở Borneo gây ra mưa lớn các tỉnh phía Bắc, vùng mưa lan rộng đến khu vực ven biển Trung Bộ, Nam Bộ hoàn toàn không có mưa.

Trường hợp không khí lạnh đã xuống rất sâu, nhưng đến ngày thứ 2 của đợt mới xuất hiện xoáy Borneo, đã gây ra diện mưa lớn cho toàn khu vực Việt Nam nhưng lượng mưa thu được lại tương đối thấp, chỉ từ 10 – 20 mm/48h.

Khi xoáy Borneo đã hình thành và duy trì liên tục trong suốt đợt xâm nhập lạnh, vùng mưa mô phỏng bao phủ rộng lớn các tỉnh phía Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và ̀cả khu vực Nam Bộ.

Tùy thuộc vào cường độ hoạt động của xoáy Borneo mà lượng mưa mô phỏng tại vùng tâm mưa có thể đạt từ 50 – 160 mm/48h.

 

Title: Ảnh hưởng của xâm nhập lạnh sâu đến mưa ở Việt Nam
Authors: Trần, Tân Tiến
Keywords: Xâm nhập lạnh;Xoáy Borneo;Lượng mưa
Issue Date: 2016
Publisher: ĐHQGHN
Series/Report no.: Vol 32, No 3S (2016);
Abstract: Sử dụng mô hình RAMS mô phỏng các đợt xâm nhập lạnh sâu xuống Việt Nam và dự báo lượng mưa trong các đợt lạnh này. Không khí lạnh hoạt động độc lập và không tạo ra xoáy ở Borneo gây ra mưa lớn các tỉnh phía Bắc, vùng mưa lan rộng đến khu vực ven biển Trung Bộ, Nam Bộ hoàn toàn không có mưa. Trường hợp không khí lạnh đã xuống rất sâu, nhưng đến ngày thứ 2 của đợt mới xuất hiện xoáy Borneo, đã gây ra diện mưa lớn cho toàn khu vực Việt Nam nhưng lượng mưa thu được lại tương đối thấp, chỉ từ 10 – 20 mm/48h. Khi xoáy Borneo đã hình thành và duy trì liên tục trong suốt đợt xâm nhập lạnh, vùng mưa mô phỏng bao phủ rộng lớn các tỉnh phía Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và ̀cả khu vực Nam Bộ.Tùy thuộc vào cường độ hoạt động của xoáy Borneo mà lượng mưa mô phỏng tại vùng tâm mưa có thể đạt từ 50 – 160 mm/48h.
Description: TR. 236-242
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/57259
ISSN: 2588-1094
Appears in Collections: Earth and Environmental Studies

 

Uncategorized

PHÂN TÍCH LOÀI NẤM LINH CHI ĐEN MỚI PHÁT HIỆN ĐƯỢC Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN, ĐỒNG NAI – LÂM ĐỒNG

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11594

Họ Linh chi Ganodermataceae là một họ tương đối trẻ và đang phân hóa, có nhiều loài được định danh khi thì thuộc chi Ganoderma, khi thì thuộc chi Amauroderma. Thực ra nếu phân tích chi tiết cấu tạo của bào tử và thể quả thì có thể nhận thấy có một nhóm loài trung gian giữa hai chi Ganoderma và Amauroderma.

Về cơ bản ý tưởng về sự giao hòa của các chi từ thập niên trước đã phân tích trong quá trình phân hóa dạng sống của chúng.

Loài nấm linh chi đen – Amauroderma subresinosum (Murr.) Coener cũng hiếm gặp , được phát hiện lần đầu ở vườn Quốc gia Cát Tiên vào cuối mùa mưa năm 2004, có nhiều nét phân hóa như những dạng trung gian giữa hai chi: Ganoderma và Amauroderma.

Trong công trình này, chúng tôi bổ sung các dẫn liệu hình thái giải phẫu các bộ mẫu vật bản địa Việt Nam, mới thu thập trong các đợt khảo sát tại VQG Cát Tiên, kiểm tra danh pháp và lần đầu tiên tiến hành phân tích cấu trúc gien ri-bô-xôm (các vùng chuyên biệt ITS và D), tích hợp các kết quả thu được và thảo luận về hệ thống học phân tử chủng loại phát sinh.

Các đặc điểm thành phần hóa sinh đã được phân tích, lần đầu tiên xác định được axit béo và nhiều steron- dẫn chất từ triterpenoit trong loài linh chi này

 

Title: PHÂN TÍCH LOÀI NẤM LINH CHI ĐEN MỚI PHÁT HIỆN ĐƯỢC Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN, ĐỒNG NAI – LÂM ĐỒNG
Authors: Lê Xuân Thám
Nguyễn Lê Quốc Hùng
Đặng Ngọc Quang
Đào Thị Lương
Keywords: Nấm Linh chi đen;Ganodermataceae;Ganoderma;Amauroderma
Issue Date: 2009
Publisher: Tạp chí Sinh học
Series/Report no.: Tạp chí Sinh học;31(4)
Abstract: Họ Linh chi Ganodermataceae là một họ tương đối trẻ và đang phân hóa, có nhiều loài được định danh khi thì thuộc chi Ganoderma, khi thì thuộc chi Amauroderma. Thực ra nếu phân tích chi tiết cấu tạo của bào tử và thể quả thì có thể nhận thấy có một nhóm loài trung gian giữa hai chi Ganoderma và Amauroderma. Về cơ bản ý tưởng về sự giao hòa của các chi từ thập niên trước đã phân tích trong quá trình phân hóa dạng sống của chúng [16]. Loài nấm linh chi đen – Amauroderma subresinosum (Murr.) Coener cũng hiếm gặp [1,2], được phát hiện lần đầu ở vườn Quốc gia Cát Tiên vào cuối mùa mưa năm 2004, có nhiều nét phân hóa như những dạng trung gian giữa hai chi: Ganoderma và Amauroderma. Trong công trình này, chúng tôi bổ sung các dẫn liệu hình thái giải phẫu các bộ mẫu vật bản địa Việt Nam, mới thu thập trong các đợt khảo sát tại VQG Cát Tiên, kiểm tra danh pháp và lần đầu tiên tiến hành phân tích cấu trúc gien ri-bô-xôm (các vùng chuyên biệt ITS và D), tích hợp các kết quả thu được và thảo luận về hệ thống học phân tử chủng loại phát sinh. Các đặc điểm thành phần hóa sinh đã được phân tích, lần đầu tiên xác định được axit béo và nhiều steron- dẫn chất từ triterpenoit trong loài linh chi này [13].
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11594
ISSN: 0866-7160
Appears in Collections: IMBT – Bài đăng tạp chí / Tham luận HN-HT

 

Uncategorized

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM NGÂN NHĨ TREMELLALES CỦA VIỆT NAM

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11409

Cùng với mộc nhĩ (Auriculariales), các loài ngân nhĩ (Tremellales) là những nấm ăn quý được coi là thực phẩm cao cấp có giá trị rất cao bởi chứa nhiều muối khoáng và vitamin.

Chúng thường có quả thể chất keo, khi khô trở nên chất sừng và bảo quản tương đối dễ dàng.

Trước đây các nhà nấm học xếp ngân nhĩ cùng với mộc nhĩ vào lớp phụ nấm cách đảm khuẩn Phargmobasidiom

ycetidae nhưng gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống của chúng. Dưới đây là những kết quả thu được của chúng tôi về nhóm nấm này ở Việt Nam trong thời gian qua.

Title: NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM NGÂN NHĨ TREMELLALES CỦA VIỆT NAM
Authors: Đoàn Văn Vệ
Trịnh Tam Kiệt
Keywords: ngân nhĩ (Tremellales);mộc nhĩ (Auriculariales);Phargmobasidiomycetidae
Issue Date: 2008
Publisher: Di truyền học và ứng dụng – Chuyên san Công nghệ sinh học
Series/Report no.: Di truyền học và ứng dụng – Chuyên san Công nghệ sinh học;4
Abstract: Cùng với mộc nhĩ (Auriculariales), các loài ngân nhĩ (Tremellales) là những nấm ăn quý được coi là thực phẩm cao cấp có giá trị rất cao bởi chứa nhiều muối khoáng và vitamin. Chúng thường có quả thể chất keo, khi khô trở nên chất sừng và bảo quản tương đối dễ dàng. Trước đây các nhà nấm học xếp ngân nhĩ cùng với mộc nhĩ vào lớp phụ nấm cách đảm khuẩn Phargmobasidiomycetidae nhưng gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống của chúng. Dưới đây là những kết quả thu được của chúng tôi về nhóm nấm này ở Việt Nam trong thời gian qua.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11409
ISSN: 0866-8566
Appears in Collections: IMBT – Bài đăng tạp chí / Tham luận HN-HT

 

Uncategorized

Evaluation of the geological heritage of the Dray Nur and Dray Sap waterfalls in the Central Highlands of Vietnam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/16637

The Central Highlands in Vietnam are well known for their large basalt plateau and their natural touristic resources with impressive landforms, such as ancient volcanoes, lakes and waterfalls, which are the result of volcanic activities, and of which the waterfalls are especially spectacular scenically.

The Dray Nur and Dray Sap waterfalls located on the Serepok River of Dak Lak and Dak Nong provinces, respectively, are remarkable landscapes with a significant aesthetic value.

Not only are these waterfalls well known as tourist attractions, they are also noted for a system of impressive geological objects, including basalt columns beneath torrential waterfalls, contemporaneous columnar and pillow basalts, fan-shaped columnar structures, collapsed wells, cliffs formed at the base of basalt columns, and the boundary between columnar basalts and Jurassic sediments.

The aim of the study reported here is to demonstrate the relevance of this site as a geomorphological and geological heritage site, according to current inventory and evaluation methods.

The results show that the Dray Nur and Dray Sap waterfalls include 10 inventoried geo-points, relevant to four key themes, namely science, culture, education and tourism.

The ultimate goal of the study is to use these results as justifications for the conservation of the area.

 

Title: Evaluation of the geological heritage of the Dray Nur and Dray Sap waterfalls in the Central Highlands of Vietnam
Authors: Ta Hoa Phuong
Nguyen-Thuy Duong
Truong Quang Hai
Bui Van Dong
Issue Date: 2016-03-28
Publisher: Geoheritage (2016)
Abstract: The Central Highlands in Vietnam are well known for their large basalt plateau and their natural touristic resources with impressive landforms, such as ancient volcanoes, lakes and waterfalls, which are the result of volcanic activities, and of which the waterfalls are especially spectacular scenically. The Dray Nur and Dray Sap waterfalls located on the Serepok River of Dak Lak and Dak Nong provinces, respectively, are remarkable landscapes with a significant aesthetic value. Not only are these waterfalls well known as tourist attractions, they are also noted for a system of impressive geological objects, including basalt columns beneath torrential waterfalls, contemporaneous columnar and pillow basalts, fan-shaped columnar structures, collapsed wells, cliffs formed at the base of basalt columns, and the boundary between columnar basalts and Jurassic sediments. The aim of the study reported here is to demonstrate the relevance of this site as a geomorphological and geological heritage site, according to current inventory and evaluation methods. The results show that the Dray Nur and Dray Sap waterfalls include 10 inventoried geo-points, relevant to four key themes, namely science, culture, education and tourism. The ultimate goal of the study is to use these results as justifications for the conservation of the area.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/16637
Appears in Collections: IVIDES – Bài đăng tạp chí / Tham luận HN-HT

 

Uncategorized

Dualization of Signal Recovery Problems

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10986

In convex optimization, duality theory can sometimes lead to simpler solution methods than those resulting from direct primal analysis.

In this paper, this principle is applied to a class of composite variational problems arising in particular in signal recovery.

These problems are not easily amenable to solution by current methods but they feature Fenchel–Moreau–Rockafellar dual problems that can be solved by forward-backward splitting.

The proposed algorithm produces simultaneously a sequence converging weakly to a dual solution, and a sequence converging strongly to the primal solution.

Our framework is shown to capture and extend several existing duality-based signal recovery methods and to be applicable to a variety of new problems beyond their scope.

 

Title: Dualization of Signal Recovery Problems
Authors: Patrick L. Combettes, Đinh Dũng, Bằng Công Vũ
Keywords: Convex, optimization, Denoising Dictionary, Dykstra-like, algorithm, Duality, Forward-backward, splitting image, reconstruction image, restoration Inverse, problem Signal, recovery Primal-dual, algorithm Proximity operator, Total variation
Issue Date: 2010
Publisher: Set-Valued and Variational Analysis
Abstract: In convex optimization, duality theory can sometimes lead to simpler solution methods than those resulting from direct primal analysis. In this paper, this principle is applied to a class of composite variational problems arising in particular in signal recovery. These problems are not easily amenable to solution by current methods but they feature Fenchel–Moreau–Rockafellar dual problems that can be solved by forward-backward splitting. The proposed algorithm produces simultaneously a sequence converging weakly to a dual solution, and a sequence converging strongly to the primal solution. Our framework is shown to capture and extend several existing duality-based signal recovery methods and to be applicable to a variety of new problems beyond their scope.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10986
Appears in Collections: ITI – Papers